Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số
Ngày đăng : 17:02, 30/09/2026
Truy xuất nguồn gốc theo mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
Nghị định số 372/2026/NĐ-CP gồm 8 chương, 38 điều, quy định về Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số thông qua Nền tảng quốc gia; việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa; quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Theo Nghị định, hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thông qua Nền tảng quốc gia được thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, căn cứ vào mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa.
Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc. Danh mục, lộ trình áp dụng, phương thức thực hiện theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh hoặc đến từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa, sự kiện trọng yếu và yêu cầu dữ liệu chuyên ngành do bộ quản lý ngành, lĩnh vực xác định, quyết định theo thẩm quyền.
Việc áp dụng phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực của doanh nghiệp và đặc thù phát triển của từng ngành hàng. Nền tảng quốc gia thực hiện chức năng kỹ thuật về định danh, xác thực, đối chiếu, lưu vết, kết nối và chia sẻ dữ liệu trên cơ sở danh mục, lộ trình và yêu cầu chuyên ngành đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được khuyến khích thực hiện tự nguyện theo quy định của Nghị định.
Đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu, việc áp dụng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân chủ động áp dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, thị trường xuất khẩu và hoạt động thương mại quốc tế.
Nghị định cũng quy định các sản phẩm, hàng hóa tạm nhập tái xuất; quá cảnh, chuyển khẩu; trung chuyển; nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba không thuộc phạm vi điều chỉnh. Đồng thời, không áp dụng quy định bắt buộc định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc tại Nghị định đối với sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cơ yếu có yêu cầu bảo mật về nguồn gốc, xuất xứ.
Các nội dung về nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.
![]() |
|
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số. |
Mã UID tạo nền tảng truy xuất trên môi trường số
Nghị định quy định đối tượng áp dụng gồm cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc; các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh, phân phối, nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho sản phẩm, hàng hóa; tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử; các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng thông tin trên Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa cùng các chủ thể khác có liên quan.
Một nội dung đáng chú ý là quy định về mã định danh sản phẩm, hàng hóa (mã UID). Theo Nghị định, mã UID là đường dẫn (digital link) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn GS1 quốc tế, được tạo lập tự động trên Nền tảng quốc gia, có khả năng định danh và truy xuất đến từng đơn vị hoặc lô, mẻ, loại sản phẩm, hàng hóa.
Mã UID được thể hiện thông qua vật mang dữ liệu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và tương thích với tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng nhận diện, thu thập, chia sẻ và xác minh thông tin trong môi trường số và trong chuỗi cung ứng. Mã UID không thay thế mã GTIN, mã số địa điểm toàn cầu (GLN), mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm đã được cấp, sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc.
Mỗi mã UID chỉ được gắn với một sản phẩm, hàng hóa hoặc một lô, mẻ sản phẩm, hàng hóa cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên Nền tảng quốc gia. Mã UID đồng thời được liên kết với mã định danh phi tập trung (DID) của chủ thể, khóa bí mật, khóa công khai, chữ ký điện tử chuyên dùng, chứng chỉ số và bằng chứng số, bảo đảm khả năng xác thực và truy vết độc lập.
Hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số thông qua mã UID trên Nền tảng quốc gia. Việc truy xuất phải được ghi nhận thông qua khởi tạo các chứng chỉ số qua mã UID nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Việc này được thực hiện đối với các sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông, tiêu dùng, bao gồm việc xuất hóa đơn và ghi nhận thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng có trách nhiệm bảo đảm việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng với công đoạn đó thông qua mã UID, trừ trường hợp dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Trường hợp việc khởi tạo chứng chỉ số do bên cung cấp dịch vụ thực hiện, các bên phải có thỏa thuận xác định rõ chủ thể, phạm vi thực hiện, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu và trách nhiệm pháp lý.
Đối với từng ngành hàng, bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc; quy định các sự kiện trọng yếu phải khởi tạo chứng chỉ số trong quá trình truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Việc này phải phù hợp đặc thù từng nhóm sản phẩm, hàng hóa, đồng thời bảo đảm không làm phát sinh thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhiều lần; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu sẵn có và đồng bộ, liên thông dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa.
Các chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận xuất xứ, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao được số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý do cơ quan có thẩm quyền quy định. Đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và thấp, việc số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ các giấy tờ, chứng nhận được khuyến khích thực hiện để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành.
Đáng chú ý, các chứng chỉ số về chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng nhận xuất xứ; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia có giá trị sử dụng như bản chính.
Nghị định số 372/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
