Tùy nghi truy tố trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới: Liên hệ với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Ngày đăng : 13:58, 28/09/2026

(Kiemsat.vn) - Bài viết phân tích chế định tùy nghi truy tố trong pháp luật một số nước trên thế giới, trong đó tập trung vào các thẩm quyền, căn cứ áp dụng và cơ chế kiểm soát; đồng thời liên hệ với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát chung về chế định tùy nghi truy tố

Truy tố là việc đưa người phạm tội ra trước Tòa án để tiến hành xét xử. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao thẩm quyền truy tố cho Viện kiểm sát/Viện công tố. Quyền truy tố được biết đến với 02 phương thức thực hiện là truy tố bắt buộc và tùy nghi truy tố.

Truy tố bắt buộc là một nguyên tắc pháp lý được áp dụng rộng rãi trong hệ thống dân luật; theo đó, Kiểm sát viên/Công tố viên phải truy tố người phạm tội khi có đủ bằng chứng cho thấy tội phạm đã được thực hiện. Trong việc truy tố bắt buộc, tất cả các tội phạm khi có đủ bằng chứng để kết tội phải được đưa ra Tòa.

Tùy nghi truy tố là việc Viện công tố, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc điểm của nhân thân người phạm tội và các biện pháp xử lý thay thế để xác định có tiến hành việc truy tố hình sự không. Tùy nghi truy tố được thực hiện ở ba mức độ: (1) Có truy tố hay không truy tố; (2) Truy tố với tội danh nào; và (3) Chứng minh được vụ án thì có nên truy tố hay không truy tố, cụ thể:

Mức độ đầu tiên của quyền “tùy nghi truy tố” được Công tố viên thực hiện đối với mọi vụ án, trong mọi hệ thống pháp luật, ngay cả những hệ thống công tố hoạt động dựa trên nguyên tắc “bắt buộc truy tố”. Công tố viên phải xem xét, đánh giá và quyết định liệu bằng chứng có đủ để truy tố tội phạm hay không.

Mức độ thứ hai của việc tùy nghi truy tố là nếu các tình tiết khách quan cho thấy có dấu hiệu tội phạm, thì tội danh đó là gì? Ngay cả trong các hệ thống “truy tố bắt buộc”, Công tố viên phải đánh giá các tài liệu, chứng cứ để xem xét có đủ căn cứ chứng minh tội phạm hay không.

Mức độ thứ ba của tùy nghi truy tố được thể hiện ngay cả trong trường hợp đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội thì Công tố viên quyết định cân nhắc sự cần thiết của việc truy tố (có truy tố hay không truy tố). Quyết định truy tố không chỉ dựa vào căn cứ pháp lý mà còn chú trọng cân nhắc đến lợi ích công cộng, lợi ích của xã hội khi xử lý vụ việc và khả năng cải tạo của người phạm tội. Khi áp dụng chế định tùy nghi truy tố, Công tố viên có quyền không truy tố một tội phạm ngay cả khi đủ bằng chứng phạm tội và áp dụng các hình thức xử lý chuyển hướng hoặc hình phạt thay thế đối với một số hành vi phạm tội nhất định nếu việc truy tố được cho là không cần thiết hoặc không mang lại hiệu quả xã hội.

Theo Luật tư pháp hình sự nước Anh[1], việc truy tố phải dựa trên cơ sở chứng cứ và lợi ích công. Luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ tuy không đề cập trực tiếp chế định tùy nghi truy tố, nhưng có quy định thủ tục thỏa thuận nhận tội trước khi xét xử, theo đó khuyến khích bị can nhận tội[2]. Bộ luật Tố tụng hình sự Nga quy định vụ án có thể không truy tố trên cơ sở thỏa thuận với người bị tình nghi, bị can, bị cáo về hợp tác trước khi xét xử, đối với án tư tố do các bên tự hòa giải[3]. Liên bang Nga phân biệt hai lĩnh vực, đối với án công tố, thẩm quyền quyết định thuộc về Kiểm sát viên; đối với án tư tố, thẩm quyền quyết định thuộc về Dự thẩm viên (nếu được Thủ trưởng Cơ quan điều tra dự thẩm đồng ý) và Điều tra viên (nếu được Kiểm sát viên đồng ý)[4] và trao cho Công tố viên có thẩm quyền quyết định dựa trên cơ sở xem xét, đánh giá về tính cần thiết của việc truy tố (lợi ích chung của việc truy tố).

Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp không quy định trực tiếp chế định tùy nghi truy tố nhưng căn cứ Điều 40 và phần quyết định truy tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) thì Viện công tố được toàn quyền quyết định việc truy tố hoặc không truy tố. Cơ sở đưa ra là do vai trò quan trọng của Cơ quan công tố là đại diện cho lợi ích xã hội, vì vậy Công tố viên hoàn toàn có quyền cân nhắc quyết định truy tố hoặc không truy tố. Thực tế lý luận pháp luật Pháp thừa nhận nguyên tắc tùy nghi truy tố và ước tính 50% tổng số vụ án có căn cứ truy tố nhưng Công tố viên không ra quyết định truy tố[5]. Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp quy định do Công tố viên trưởng cấp sơ thẩm quyết định[6].

Bộ luật Tố tụng hình sự Đức quy định nguyên tắc truy tố bắt buộc[7] nhưng căn cứ tình hình cụ thể cho phép Công tố viên tùy nghi truy tố trên cơ sở đánh giá về mục đích.

Tại Trung Quốc, thẩm quyền quyết định thuộc về Viện kiểm sát. Viện kiểm sát có thể quyết định không truy tố nếu phạm tội nhẹ, không cần thiết phải áp dụng hình phạt hoặc có thể miễn trừ hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đối với bị can không bị truy tố, nếu xét thấy cần thiết phải áp dụng hình thức xử phạt, xử lý hành chính hoặc tịch thu tài sản do phạm tội mà có thì Viện kiểm sát phải đưa ra đề xuất và chuyển cho cơ quan chức năng xử lý. Sau khi cơ quan chức năng xử lý, phải kịp thời thông báo kết quả cho Viện kiểm sát[8].

Tại Nhật Bản, thẩm quyền quyết định thuộc về Viện công tố. Pháp luật quy định rõ có thể quyết định không truy tố nếu xét thấy việc truy tố không cần thiết do đặc điểm về tuổi, hoàn cảnh của người phạm tội, mức độ và điều kiện của tội phạm cũng như hoàn cảnh sau khi phạm tội[9]. Công tố viên tại Pháp, Đức có thể quyết định việc không truy tố dựa trên đánh giá về mục đích, sự cần thiết đem lại lợi ích công của việc truy tố[10]. Theo BLTTHS Trung Quốc, quyết định không truy tố phải được thông báo công khai, được sự đồng ý của bị can hoặc thực hiện việc khiếu nại tiếp theo đối với cơ quan, người có thẩm quyền nếu không đồng ý với quyết định này.

Việc áp dụng chế định này thể hiện tính linh hoạt trong áp dụng pháp luật và tạo điều kiện để chính sách hình sự được thực thi theo hướng nhân đạo và hợp lý hơn[11]. Chế định này còn thể hiện quan điểm rằng hoạt động tư pháp hình sự không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới mục tiêu ổn định xã hội, bảo đảm lợi ích công cộng và nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật. Thông qua việc sử dụng quyền này, Công tố viên có thể tập trung nguồn lực vào những vụ án có mức độ ưu tiên cao hơn hoặc có ảnh hưởng lớn hơn đối với an toàn công cộng, qua đó tối ưu hóa thời gian làm việc và chi phí tố tụng.

Về nguyên tắc, khi áp dụng chế định tùy nghi truy tố, tính độc lập trong các quyết định của Công tố viên được đề cao, họ không bị ràng buộc tuyệt đối bởi nguyên tắc “có đủ chứng cứ là phải truy tố”, mà có thể cân nhắc chính sách hình sự và các yếu tố nhân đạo.

Các quy định về tùy nghi truy tố đều được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể, xác định rõ căn cứ, điều kiện và giới hạn áp dụng nhằm bảo đảm tính minh bạch và phòng ngừa nguy cơ lạm dụng trong thực thi quyền công tố; đồng thời, thiết lập những cơ chế để kiểm soát quyền tùy nghi truy tố của những người có thẩm quyền để bảo đảm tính trung thực, nhất quán và công bằng trong các quyết định tùy nghi truy tố. Đặc biệt là quyết định không truy tố được xem xét bởi một cơ quan độc lập khác để đảm bảo tính công bằng, phù hợp, nhằm ngăn chặn việc bỏ qua không truy tố vụ việc không đúng quy định. Nhật Bản thiết lập một cơ quan - Ủy ban thẩm tra việc không truy tố (PRC) để xem xét lại các quyết định không truy tố của Công tố viên. Trung Quốc quy định[12], sau khi nhận được quyết định không truy tố, Cơ quan điều tra có thể yêu cầu Viện kiểm sát thẩm tra lại, nếu yêu cầu không được chấp nhận thì có thể đề nghị Viện kiểm sát trên một cấp tiến hành thẩm tra lại. Pháp luật tố tụng hình sự Đức quy định[13], trong một số trường hợp, Cơ quan công tố có quyền đình chỉ vụ án trước khi ra quyết định truy tố, nhưng phải có sự đồng ý của Tòa án, sau khi nhận quyết định truy tố Tòa án đình chỉ phải có sự đồng ý của Cơ quan công tố (Điều 156). Trong một số trường hợp cũng cần có sự đồng ý của bị cáo (Điều 153a).

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam về việc quyết định truy tố của Viện kiểm sát

Theo Điều 240 BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) thì trong thời hạn quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát phải ra một trong 03 quyết định sau: (1) Truy tố bị can trước Tòa án; (2) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; (3) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Như vậy, tương ứng với nội dung về “không truy tố”, có thể thấy ở Việt Nam, Viện kiểm sát có thể quyết định việc đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can. Cụ thể:

Căn cứ áp dụng: Theo Điều 248 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155[14] và Điều 157[15] BLTTHS hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16[16] hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015). Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

Thẩm quyền áp dụng: Theo Điều 240 và Điều 248 BLTTHS năm 2015 thì thẩm quyền áp dụng đình chỉ vụ án/đình chỉ vụ án đối với bị can được giao cho Viện kiểm sát đang thụ lý vụ án trong giai đoạn truy tố.

Thời điểm áp dụng: Theo khoản 1 Điều 240 BLTTHS năm 2015, trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 10 ngày), 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày), 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày), kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong ba quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án, trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Như vậy, thời điểm áp dụng việc đình chỉ vụ án/ đình chỉ vụ án đối với bị can là trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 10 ngày), 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày), 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày), kể từ ngày Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra.

Trình tự, thủ tục áp dụng: Khi có căn cứ đình chỉ vụ án thì Kiểm sát viên phải xem xét, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ, làm văn bản báo cáo nêu rõ lý do, căn cứ, trường hợp đình chỉ, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 155, Điều 157, Điều 248 BLTTHS năm 2015, Điều 16, Điều 29, khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015.

Việc đình chỉ vụ án đối với vụ án đang tạm đình chỉ được thực hiện theo các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 9 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020.

Việc đình chỉ có thể đối với toàn bộ vụ án hoặc trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án chỉ liên quan đến một hoặc một số bị can thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất nêu rõ với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để ra quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 248 BLTTHS năm 2015.

Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ án bị đình chỉ theo khoản 5 và khoản 6 Điều 157 BLTTHS năm 2015 mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục hồi vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án, có thể phục hồi đối với toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.

Về cơ chế kiểm soát: Theo khoản 3 Điều 240 BLTTHS năm 2015, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án/ đình chỉ vụ án đối với bị can của Viện kiểm sát cấp dưới nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định đúng pháp luật. Quyết định đình chỉ vụ án/đình chỉ vụ án đối với bị can cũng có thể bị khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 470 BLTTHS năm 2015.

3. Một số vấn đề gợi mở đối với tố tụng hình sự Việt Nam

Tố tụng hình sự của các quốc gia nêu trên đều quy định Viện kiểm sát/Viện công tố có thẩm quyền quyết định việc không truy tố; đồng thời, quy định cụ thể, chặt chẽ căn cứ, điều kiện thực hiện thẩm quyền không truy tố. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên và để thống nhất với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014[17], sửa đổi, bổ sung năm 2025, cần thiết quy định cụ thể thẩm quyền này của Viện kiểm sát trong BLTTHS năm 2015 để bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân trong việc truy tố; đồng thời, cần quy định cụ thể các trường hợp quyết định không truy tố và cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh lạm dụng. Đề xuất này là phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi năm 2025 về nhiệm vụ của VKSND là bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; phù hợp với mục tiêu xây dựng một nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Vấn đề này đã được đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, theo đó: (i) Về thẩm quyền quyết định không truy tố: Viện kiểm sát; (ii) Về căn cứ áp dụng: Đối với hành vi mặc dù đủ yếu tố cấu thành tội phạm và chứng minh được tội phạm (không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án/ đình chỉ vụ án đối với bị can) nhưng dựa trên đánh giá về mục đích, sự cần thiết đem lại lợi ích công của việc truy tố, nguồn lực tố tụng, Viện kiểm sát sẽ xem xét quyết định không truy tố trên cơ sở bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân (sẽ phải có những quy định cụ thể về những trường hợp cụ thể nào không truy tố vì lợi ích công và chứng cứ nào thể hiện cho việc lợi ích công bị hoặc không bị phương hại[18]). Việc không truy tố chỉ được đặt ra đối với bị can thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ đầy đủ, quá trình thu thập chứng cứ được tiến hành nhanh gọn, thuận lợi, bị can nhận tội, bị hại đồng thuận với Viện kiểm sát nếu quyết định không truy tố; (iii) Về thời điểm áp dụng: Vụ án đã qua các thủ tục khởi tố, điều tra để các chứng cứ chứng minh căn cứ không truy tố đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá; (iv) Về hình thức: Việc không truy tố phải được thể hiện bằng văn bản; (v) Về cơ chế kiểm soát: Việc không truy tố phải được Viện kiểm sát cấp trên đồng ý trước khi quyết định. Quyết định không truy tố có thể bị kháng cáo và việc giải quyết kháng cáo được thực hiện theo quy định tại Chương XXII BLTTHS năm 2015.

Nguyễn Ngọc Trà My

Tài liệu tham khảo:

1. Thẩm quyền truy tố và tính chịu trách nhiệm - Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm của Pháp và Anh và xứ Wales, Laurene Soubise.

2. Thẩm quyền tùy nghi truy tố và từ bỏ truy tố có điều kiện - Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Mark FINDLAY, Trường Đại học quản lý Singrapore.

3. Ủy ban rà soát quyết định truy tố của Nhật Bản: Giám sát thẩm quyền tùy nghi truy tố của Chính phủ, Hiroshi Fukurai, PhD.

4. Khái quát về cải cách hệ thống tư pháp hình sự Nhật Bản, Bài tham luận Hội thảo của ông SETO Takeshi, Viện trưởng Viện nghiên cứu và Đào tạo, Bộ Tư pháp Nhật bản ngày 12/3/2024 tại VKSND tối cao.

5. Tổng quan chế độ công tố của Nhật Bản - Từ góc độ ngăn chặn sự can thiệp quá mức đối với Công tố viên, bao gồm hành vi tham nhũng; Bài tham luận Hội thảo của ông OKUDA Yoshinori, Giảng viên Viện nghiên cứu phòng ngừa tội phạm và xử lý tội phạm khu vực Châu Á viễn đông của Liên hợp Quốc (UNAFEI).

6. Thẩm quyền tuỳ nghi truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Hungary, ThS Hoàng Hải Yến, Tạp chí Kiểm sát số 14/2022, tr. 56-63.

7. Https://danchuphapluat.vn/quyen-tuy-nghi-truy-to-quy-dinh-cua-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-cac-goi-mo-cho-viet-nam.

8. Https://openyls.law.yale.edu/handle/20.500.13051/4850,

“Controlling Prosecutorial Discretion in Germany” by John Langbein.

9. Https://www.ojp.gov/ncjrs/virtual-library/abstracts/german-prosecutor-discretionary-justice-europe-and-america-1976, German Prosecutor From Discretionary Justice in Europe and America, 1976 by Kenneth Culp Davis - See NCJ-44399” by J HERRMANN.

10. Https://www.ojp.gov/ncjrs/virtual-library/abstracts/controlling-prosecutorial-discretion-germany, “Controlling Prosecutorial Discretion In Germany” by John Langbein on University of Chicago Law Review Journal (Volume: 41 Issue: 3 Dated: (SPRING 1974), p. 439-467.

11. Https://www.ojp.gov/ncjrs/virtual-library/abstracts/anatomy-discretion-analysis-prosecutorial-decision-making-summary, “Anatomy of Discretion: An Analysis of Prosecutorial Decision Making” by Bruce Frederick and Don Stemen.

12. Https://wrap.warwick.ac.uk/81689/: “Prosecutorial discretion and accountability : A comparative study of France and England and Wales” by PhD Laurene, Soubise of University of Warwick.

13. “Văn phòng Công tố”, András Zs. VARGA, Hajnalka JAKAB, Ádám VARGA đăng ngày 31/08/2020 tại ttps://szakcikkadatbazis.hu/doc/8108111.

14. Https://www.justice.gov/jm/title-9-criminal.

15. Https://www.cps.gov.uk/legal-guidance/victims-right

-review-scheme.

16. Https://tapchikhplvn.hcmulaw.edu.vn/module/xem

chitietbaibao?oid=d39439c9-23ff-469b-986e-e8286a388c21.


[1]. Giới thiệu 1. Tuy nhiên, Luật về Công tố viên Hoàng gia Anh quy định các trường hợp cụ thể có thể không truy tố (tùy nghi truy tố) khi xem xét mối quan hệ giữa nạn nhân và lợi ích cộng đồng- Mục 6.5- 6.8.

[2]. Nguyên tắc 7. Cáo trạng và thông báo; Nguyên tắc 11. Thú nhận.

[3]. Khoản 5 Điều 21 BLTTHS Liên bang Nga quy định: “Kiểm sát viên có quyền, sau khi vụ án hình sự được khởi tố, ký kết với người bị tình nghi hoặc bị can, bị cáo Thỏa thuận về hợp tác trước khi xét xử”. Điều 25 (đối với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng quy định tại Điều 76 BLHS).

[4]. Điều 21 khoản 5 và Mục 4, từ điều 24-28 BLTTHS Liên bang Nga.

[5]. Mục 3.3 BLTTHS Pháp.

[6]. Điều 40-1 BLTTHS Cộng hòa Pháp: Công tố viên trưởng có quyền: Khởi tố, tìm biện pháp thay thế, khép lại vụ án.

[7]. Điều 152 BLTTHS Đức về nguyên tắc truy tố bắt buộc. Ngoại trừ khi pháp luật có quy định khác, Cơ quan công tố có nghĩa vụ phải truy tố mọi hành vi phạm tội nếu có đủ căn cứ thực tế.

[8]. Điều 173 BLTTHS Trung Quốc.

[9]. Điều 248 BLTTHS Nhật Bản.

[10]. 6.2.2. Cộng hòa Pháp quy định căn cứ điều kiện cụ thể của vụ án (nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tính có lỗi của chính nạn nhân hay việc bồi thường đã giải quyết) để Công tố viên quyết định không cần thiết truy tố dựa trên yếu tố phục vụ lợi ích chung. Quyết định không truy tố sau đó có thể phục hồi. Quyết định không tiếp tục truy tố là một quyết định mang tính hành chính và không phải là đối tượng để kháng cáo mặc dù nó có thể bị xem xét lại bởi Công tố viên cấp cao hơn. Đức quy định cụ thể hơn các điều kiện Công tố viên không cần thiết truy tố vì việc truy tố không đem lại lợi ích của công chúng. Đó là các tội phạm ít nghiêm trọng, vụ việc nhỏ đã thực hiện các điều kiện khắc phục hậu quả, bồi thường, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nỗ lực thỏa thuận hòa giải…; việc truy tố có thể làm phương hại, không có lợi cho lợi ích quốc gia hoặc khi người phạm tội đã thực hiện các biện pháp hạn chế khả năng thiệt hại cho đất nước, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, hoặc tội phạm ở nước ngoài hoặc vì lý do chính trị, chống lại luật quốc tế; một số trường hợp người chưa thành niên theo luật về Tòa án vị thành niên, Công tố viên cũng có quyền tùy nghi truy tố.

[11]. Lan Chi Le, Son Thanh Mai, Yen Hai Hoang, Duc Quang Nguyen, Thanh Nga Pham & Hai Thanh Luong (2025): Mandatory Prosecution in the Changing Time: A Systematic Literature Review, Criminal Justice Ethics, DOI: 10.1080/0731129X.2025.2476303.

[12]. Điều 174-177 BLTTHS Trung Quốc.

[13]. Điều 153 và Điều 156 BLTTHS Đức.

[14]. Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”.

[15]. Điều 157 BLTTHS năm 2015 quy định các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự gồm: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

[16]. Điều 16 BLHS năm 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

[17]. Khoản 7 Điều 16 Luật tổ chức VKSND năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là quyết định truy tố, không truy tố bị can.

[18]. Hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành cũng đã dự liệu những trường hợp phạm tội nhưng sau đó không còn đe dọa lợi ích công - không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, cụ thể là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự do “khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” (điểm a khoản 1 Điều 29 BLHS năm 2015) và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự do “khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” (điểm a khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015). Tuy nhiên, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự tại cả hai quy định trên đều chưa bao hàm căn cứ quyết định không truy tố của quyền tùy nghi truy tố. Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn quy định miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá (điểm b khoản 1 Điều 29) nhưng thẩm quyền thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Điều 70 Hiến pháp năm 2013) và chỉ áp dụng một cách hạn hữu vào những thời điểm quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, do đó, cũng khó có thể cho rằng căn cứ quyết định không truy tố có thể tích hợp vào quyết định đại xá.

Theo Tạp chí Kiểm sát in số Chuyên đề tháng 8/2026