Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam tương đồng với chế định thỏa thuận nhận tội của một số nước trên thế giới

Ngày đăng : 14:25, 21/09/2026

(Kiemsat.vn) - Pháp luật Việt Nam hiện không có quy định cụ thể về thỏa thuận nhận tội. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, thì nguyên tắc xử lý chung là khoan hồng đối với những đối tượng này.

1. Về chế định thỏa thuận nhận tội của một số quốc gia trên thế giới

Thỏa thuận nhận tội là một phương thức xác lập bản án hình sự không qua xét xử, mà dựa trên cơ sở sự nhận tội để đổi lấy một bản án, hình phạt nhẹ hơn hoặc biện pháp xử lý thay thế; là một hình thức giải quyết vụ án trên cơ sở sự đồng ý của bên buộc tội và bên bị buộc tội.

Chế định thỏa thuận nhận tội có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, trải qua hơn ba thập kỷ, đến nay, chế định này đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, những quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng như Mỹ, Anh, Nhật Bản… và kể cả những quốc gia theo mô hình tố tụng thẩm vấn như Argentina, Pháp, Trung Quốc, Úc, Nigeria, Đức... Tuy nhiên, việc áp dụng ở mỗi quốc gia có những đặc điểm khác nhau. Ở những quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng, thỏa thuận nhận tội là nguyên tắc, chế định của tố tụng hình sự. Ở những quốc gia theo mô hình tố tụng thẩm vấn thì việc áp dụng thỏa thuận nhận tội như là một thủ tục tố tụng hình sự với nhiều giới hạn, hạn chế hơn và chỉ là một trong những thủ tục kết án không qua xét xử. Theo pháp luật Hoa Kỳ, chế định thỏa thuận nhận tội được xem như thủ tục rút gọn, tuy nhiên, thực tế chứng minh, mặc dù các thủ tục tố tụng đã được rút gọn nhiều nhưng bản chất của thỏa thuận nhận tội không phải là thủ tục rút gọn.

Nội dung thỏa thuận ở các quốc gia cũng khác nhau. Hầu hết các quốc gia chỉ áp dụng nội dung giảm mức hình phạt như: Ấn độ, Trung Quốc, Đài Loan, Argentina, Pháp và Nepan... Một số ít quốc gia áp dụng nội dung thỏa thuận rộng hơn, bao gồm cả việc chuyển sang tội danh nhẹ hơn so với tội danh mà bị cáo đã thực hiện và giảm mức hình phạt, như: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức và Kenya… Nhìn chung, ở các quốc gia trên thế giới hiện nay, nội dung thỏa thuận xoay quanh các vấn đề sau:

(1) Bị can, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của chính mình để được thay đổi tội danh sang một tội danh nhẹ hơn: Thay đổi tội danh sang một tội danh nhẹ hơn hay nói cách khác là giảm hình phạt, tức là trong quá trình thỏa thuận, bị can, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình để được giảm hình phạt từ một tội danh mà bị can, bị cáo bị cáo buộc trong bản cáo trạng sang một tội danh khác nhẹ hơn. Có thể thấy, bản chất của vấn đề này là thay đổi tội danh. Tuy nhiên, việc chuyển tội danh theo cơ chế thỏa thuận nhận tội như một số quốc gia áp dụng có khả năng dẫn đến bỏ lọt tội phạm, không đạt đích đến cuối cùng của tư pháp hình sự là sự công bằng.

(2) Bị can, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của bên thứ ba (người khác, tổ chức phạm tội khác hoặc của pháp nhân khác) để được hưởng các mức giảm tương ứng hoặc thậm chí là miễn trách nhiệm hình sự, hoặc có nhiều trường hợp còn được đưa vào chương trình “bảo vệ nhân chứng” hoặc “bảo vệ nhân chứng đặc biệt” tùy thuộc vào tin tức về việc phạm tội mà người đó sẽ cung cấp hoặc đưa ra các bằng chứng. Về nội dung này, tại Việt Nam, cũng có các quy định khá tương đồng về việc giảm mức hình phạt trong trường hợp người phạm tội tố giác đồng phạm hoặc tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (những hành vi mang tính chất thú nhận, làm rõ tội phạm), theo đó, khi người phạm tội khai nhận về hành vi phạm tội của bên thứ ba (tội phạm do người đồng phạm thực hiện hoặc tội phạm khác) thì người phạm tội cũng sẽ được giảm mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, mức độ hợp tác của người với phạm tội với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; thậm chí là miễn hình phạt nếu mức độ hành vi phạm tội của người phạm tội là ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, là người giúp sức có vai trò không đáng kể trong vụ án... Vì vậy, đây cũng là một nội dung có thể nghiên cứu, xem xét đưa vào phạm vi áp dụng nếu cơ chế “thỏa thuận nhận tội” được đưa vào áp dụng tại Việt Nam.

2. Những quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam tương đồng với chế định thỏa thuận nhận tội

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, thì nguyên tắc xử lý chung là khoan hồng đối với những đối tượng này . “Khoan hồng” ở đây được thể hiện qua các chính sách xử lý hình sự như: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng; miễn trách nhiệm hình sự; miễn hình phạt…, cụ thể:

2.1. Quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là chế định thể hiện sự ưu việt của pháp luật hình sự Việt Nam, nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tích cực cải tạo để trở thành người có ích cho gia đình, xã hội. Chế định này chỉ được áp dụng đối với chủ thể phạm tội là cá nhân; theo đó, người phạm tội có thể được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng khi đủ điều kiện trong các trường hợp (Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015)):

Trường hợp 1: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Trường hợp 2: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại trường hợp 1 hoặc trường hợp 2 nêu trên nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn (lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án).

Có thể thấy trường hợp 1 nêu trên có nội dung liên quan đến yếu tố “nhận tội” trong cơ chế “thỏa thuận nhận tội”. Do vậy, các phân tích ở dưới chỉ đề cập theo các nội dung tại trường hợp 1 nêu trên. Liên quan đến yếu tố “nhận tội” trong cơ chế “thỏa thuận nhận tội”, pháp luật Việt Nam có các tình tiết giảm nhẹ, quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: Người phạm tội tự thú (điểm r); người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s); người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (điểm t). Ngoài ra, trường hợp người phạm tội đầu thú thì khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú là tình tiết giảm nhẹ (phải ghi rõ lý do trong bản án) (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015).

Khi có đủ điều kiện trong các trường hợp nêu trên, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt chỉ được áp dụng sau khi vụ án được đưa ra xét xử, khi Tòa án quyết định hình phạt; theo đó, Tòa án có thẩm quyền quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị mức hình phạt và kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án (phúc thẩm, giám đốc thẩm) nếu bản án, quyết định của Tòa án về việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt không đúng.

Như vậy, chế định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của Việt Nam khác với chế định “thỏa thuận nhận tội” ở chỗ: Không có sự thỏa thuận giữa người thực hiện hành vi phạm tội với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo pháp luật Việt Nam, “nhận tội” chỉ được xem là một trong những điều kiện để được xem xét giảm nhẹ hình phạt trong quá trình Tòa án quyết định hình phạt. Tuy nhiên, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn phải thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng, cần bảo đảm các thuộc tính khách quan, liên quan, hợp pháp của chứng cứ bởi lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án và không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

2.2. Quy định về miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình. Đây là một trong những nội dung thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước. Biện pháp này được áp dụng trong một số trường hợp phạm tội nhất định được quy định trong BLHS, nếu xét thấy không cần phải truy cứu TNHS, không cần buộc họ phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt mà vẫn đảm bảo được yêu cầu phòng và chống tội phạm, vẫn đảm bảo được yêu cầu giáo dục người phạm tội để họ trở thành người có ích cho xã hội.

Trong BLHS năm 2015, miễn TNHS được quy định tại một số điều luật ở Phần thứ nhất - Những quy định chung và Phần thứ hai - Các tội phạm. Đó là Điều 16, Điều 29, khoản 2 Điều 91, khoản 4 Điều 110, đoạn 2 khoản 7 Điều 364, khoản 6 Điều 365 và khoản 2 Điều 390. Đây là những trường hợp vì những lý do khác nhau mà việc truy cứu TNHS đối với các trường hợp này là không cần thiết. Người được miễn TNHS không bị coi là có án tích. Trong đó có 02 trường hợp miễn TNHS theo quy định tại điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 có liên quan đến trường hợp người phạm tội nhận tội.

- Điều kiện áp dụng miễn TNHS theo Điều 29 BLHS trong 02 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Miễn TNHS theo điểm c khoản 2 Điều 29. Theo đó, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thuộc trường hợp sau: Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Trường hợp 2: Miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29. Theo đó, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS, thì có thể được miễn TNHS.

Về đối tượng áp dụng: Miễn TNHS chỉ được áp dụng đối với chủ thể phạm tội là cá nhân và áp dụng đối với trường hợp khi có đủ điều kiện nêu trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể miễn TNHS cho người phạm tội. Người được miễn TNHS sẽ không phải chịu bất kỳ TNHS nào liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện

Việc miễn TNHS được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền xem xét việc miễn TNHS cho bị can, bị cáo.

Viện kiểm sát ngoài việc có thẩm quyền trực tiếp quyết định áp dụng chế định miễn TNHS đối với người phạm tội trong giai đoạn truy tố khi xét thấy có đủ điều kiện, còn có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng chế định miễn TNHS của Cơ quan điều tra, Tòa án.

So với cơ chế “thỏa thuận nhận tội” có thể thấy, mặc dù chế định miễn TNHS của Việt Nam cũng có yếu tố “thỏa thuận” và “nhận tội” nhưng sự “thỏa thuận” ở đây được thực hiện giữa người thực hiện hành vi phạm tội với người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại, không có sự thỏa thuận giữa người thực hiện hành vi phạm tội với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Việc “thỏa thuận” này phải dựa trên sự tự nguyện của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại (tự nguyện hòa giải).

2.3. Quy định về miễn hình phạt

Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt. Cũng như trường hợp miễn TNHS, người phạm tội đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định do BLHS năm 2015 quy định, việc áp dụng hình phạt đối với họ không cần thiết, do đó, Nhà nước không buộc họ phải chịu hình phạt.

Miễn hình phạt được áp dụng đối với cả chủ thể người phạm tội là cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội theo Điều 54 và Điều 88 BLHS năm 2015. Đây là điểm khác với chế định miễn TNHS (miễn TNHS chỉ áp dụng đối với cá nhân phạm tội).

Trong trường hợp được miễn hình phạt, người phạm tội và pháp nhân thương mại sẽ được miễn và không phải chịu bất cứ hình phạt nào bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt được quy định tại Điều 32 BLHS năm 2015 về các hình phạt đối với người phạm tội và Điều 33 BLHS năm 2015 về các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Bên cạnh đó, người phạm tội khi được miễn hình phạt sẽ không bị coi là có án tích (khoản 2 Điều 69 BLHS năm 2015).

Để được áp dụng miễn hình phạt người phạm tội và pháp nhân thương mại phải đủ các điều kiện sau:

- Đối với người phạm tội:

Theo Điều 59 BLHS năm 2015, người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS. Như vậy, để được xem xét miễn hình phạt người phạm tội phải thoả mãn đủ 03 điều kiện, đó là:

Thứ nhất, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015. Cụ thể: Có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và là người giúp sức có vai trò không đáng kể, phạm tội lần đầu. Thông thường loại tội phạm mà người phạm tội thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng nhưng không có tình tiết tăng nặng hoặc có tình tiết tăng nặng nhưng không đáng kể.

Thứ hai, người phạm tội thuộc trường hợp đáng được khoan hồng đặc biệt.

Ví dụ: Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ thì một trong những nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ là: Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 của BLHS đối với trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau: a) Người phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc; b) Người phạm tội là người có quan hệ lệ thuộc (như cấp dưới đối với cấp trên, người làm công hưởng lương, chấp hành nhiệm vụ theo chỉ đạo của cấp trên), không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi; đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, xử lý tội phạm; c) Người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra; d) Người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra (khoản 3 Điều 5).

Thứ ba, người phạm tội không có căn cứ để miễn TNHS theo quy định của BLHS.

Tại phần Các tội phạm, BLHS năm 2015 quy định: Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn hình phạt (khoản 2 Điều 390).

- Đối với pháp nhân thương mại phạm tội: Pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Khác với miễn hình phạt đối với người phạm tội là cá nhân, việc áp dụng miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội không cần xét đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS như phạm tội lần đầu, tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo...

Tòa án có thẩm quyền miễn hình phạt; Viện kiểm sát có thẩm quyền: (1) Đề nghị việc miễn hình phạt; (2) Kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án (phúc thẩm, giám đốc thẩm) nếu bản án, quyết định của Tòa án về việc quyết định miễn hình phạt không đúng.

So sánh với chế định “thỏa thuận nhận tội” có thể thấy:

Thứ nhất, về yếu tố “nhận tội” của bị cáo trong “thỏa thuận nhận tội”, có thể coi đây là sự “nhận tội” có điều kiện, có mục đích nhằm đổi lấy sự thuận lợi khác về phía bị cáo, có thể là được áp dụng tội danh nhẹ hơn so với tội danh của bị cáo, giảm mức án, giảm nhẹ khung hình phạt... Xét về yếu tố này của cơ chế “thỏa thuận nhận tội”, có thể thấy có vài nét tương đồng giữa cơ chế “thỏa thuận nhận tội” với chế định miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam như: Để được miễn hình phạt, người phạm tội phải tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm hoặc tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (những hành vi mang tính chất “nhận tội”, làm rõ tội phạm).

Điểm khác biệt chủ yếu về yếu tố này là: Theo chế định miễn hình phạt, việc “nhận tội” chỉ là một trong những điều kiện giúp cho người phạm tội được miễn hình phạt, ngoài ra, người phạm tội cần phải có những điều kiện khác như phạm tội lần đầu, là người giúp sức có vai trò không đáng kể trong vụ án...; tức là trong trường hợp người phạm tội “nhận tội” nhưng thiếu các điều kiện khác theo quy định của BLHS thì cũng không được miễn hình phạt mà chỉ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của BLHS.

Thứ hai, xét về yếu tố “thỏa thuận” trong cơ thế “thỏa thuận nhận tội”.

Đây là điểm khác biệt hoàn toàn của cơ chế “thỏa thuận nhận tội” so với chế định miễn hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, theo đó, trước khi “nhận tội”, bị cáo đã có thỏa thuận và biết về việc mình sẽ nhận được một sự thuận lợi nào đó nếu như bị cáo “nhận tội”; mức độ, tính chất của sự thuận lợi mà bị cáo nhận được sẽ phụ thuộc vào quá trình thương lượng giữa phía bị cáo và phía buộc tội, do đó, việc “nhận tội” của bị cáo trong cơ chế “thỏa thuận nhận tội” mang tính chất thương lượng, thỏa thuận. 

Đối với chế định miễn hình phạt, người phạm tội biết trước rằng việc “nhận tội” của mình sẽ nhận được sự thuận lợi như thế nào, bởi sự thuận lợi mà người phạm tội nhận được đã được quy định rõ trong BLHS, do đó, trong chế định miễn hình phạt, việc “nhận tội” của người phạm tội là mặc nhiên “có hoặc không”, mà không mang tính chất thương lượng, thỏa thuận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như cơ chế “thỏa thuận nhận tội”.

3. Đánh giá chung

Pháp luật hình sự Việt Nam có 03 chế định tương ứng với cơ chế “thỏa thuận nhận tội”: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, miễn TNHS và miễn hình phạt. Tuy nhiên, các chế định này có điểm khác với cơ chế “thỏa thuận nhận tội” của các nước trên thế giới, cụ thể là:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam mặc dù có quy định yếu tố “thỏa thuận” nhưng là sự “thỏa thuận” giữa người thực hiện tội phạm với bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại (bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải). Pháp luật Việt Nam không quy định sự thỏa thuận giữa người thực hiện hành vi phạm tội hoặc người bào chữa của họ với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Thứ hai, mặc dù có yếu tố “nhận tội” nhưng theo pháp luật Việt Nam, “nhận tội” chỉ được xem là một trong những điều kiện để được xem xét giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt hoặc miễn TNHS.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng, cần bảo đảm các thuộc tính khách quan, liên quan, hợp pháp của chứng cứ bởi lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án và không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

Thứ ba, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với cả 03 chế định; còn Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền xem xét, quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho bị can trong quá trình điều tra, truy tố.

Việc thực hiện các chế định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, miễn TNHS và miễn hình phạt đều được Viện kiểm sát, thông qua chức năng, nhiệm vụ của mình, kiểm sát một cách chặt chẽ. Trường hợp không đúng, không có căn cứ, Viện kiểm sát có thẩm quyền hủy quyết định (hủy quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra) hoặc kháng nghị để Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết lại.

Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, người bào chữa cũng được tham gia ngay từ đầu để bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

Thứ tư, việc miễn TNHS đối với bị can, bị cáo có thể được thực hiện ngay từ giai đoạn điều tra vụ án. Ngoài ra, vụ án cũng có thể giải quyết trong thời hạn ngắn hơn qua thủ tục rút gọn.

Thứ năm, việc giám sát đối với các quyết định miễn TNHS, quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau: Qua các thủ tục khiếu nại, tố cáo; giám sát của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; qua kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới…

Nguyễn Xuân Hưởng

--------------------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

A. Các tài liệu tham khảo trong nước:

1. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025).

3. Tội phạm cổ cồn trắng trong thế giới hiện đại và những biện pháp đấu tranh, phòng chống - Tạp chí Luật học, Tiến sĩ Dương Tuyết Miên, Giảng viên Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, (https://thegioiluat.vn/uploads/users/2017/07/89/TS.%20Duong%20Tuyet%20Mien%20s4-04.pdf).

4. Tìm hiểu về lịch sử và bản chất của nguyên tắc mặc cả thú tội của Mỹ, PGS.TS. Đinh Thị Mai, Phòng Pháp luật hình sự, Viện Nhà nước và pháp luật (https://tapchitoaan.vn/tim-hieu-ve-lich-su-va-ban-chat-cua-nguyen-tac%E2%80

%9Cmac-ca-thu-toi%E2%80%9D-cua-my7662.html#:~:text=%E2%80%9CM%E1%BA%B7c%20c%E1%BA%A3%20th%C3%BA%20t%E1%BB%99i%E2%80%9D%20(Plea%20bargains)%20l%C3%A0%20m%E1%BB%99t,c%C3%B3%20l%E1%BB%A3i)%20h%C6%A1n%20cho%20m%C3%ACnh).

5. Chế định mặc cả nhận tội theo pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam, TS. Lê Huỳnh Tấn Duy (https://iluatsu.com/hinh-su/che-dinh-mac-ca-nhan-toi-theo-phap-luat-hoa-ky-kinh-nghiem-cho-viet-nam/).

6. “Thỏa thuận nhận tội - “Bùa hộ mệnh để không phải hầu toà ở Mỹ” (https://vnexpress.net/thoa-thuan-nhan-toi-bua-ho-menh-de-khong-phai-hau-toa-o-my-3737398.html).

7. Nguyên tắc mặc cả thú tội (https://text.xemtailieu.net/tai-lieu/nguyen-tac-mac-ca-thu-toi-2466708.html).

8. Lê Thị Thắm, Thủ tục thỏa thuận nhận tội ở Đức dưới góc nhìn so sánh với thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và những hàm ý cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 03 (57)/2022.

B. Các tài liệu tham khảo nước ngoài:

1. Bộ luật Tố tụng hình sự Chile.

2. Associate Dean for Academic Affairs and Frank L. Williams, Jr. Professor of Criminal Law, Chapman University School of Law. A.B. 1977, University of Missouri; J.D. 1981, University of Michigan.

3. “The Plea Agreement Process: An International Perspective”, John W. Vaudreuil Former United States Attorney.

4. “The Japanese Cooperation Agreement System in Practice: Derived from the U.S. Plea Bargaining System but Different”, Haruhi Abe Bachelor of Law (Kyoto University), Juris Doctor (The University of Tokyo School of Law), Master of Laws (University of California, Berkeley, School of Law), Master of Laws in Technology, Media and Telecommunications Law (Queen Mary, University of London), Attorney-at-law, Nishimura & Asahi, Osaka, Japan.

5. “Plea Bargaining, Conviction Without Trial, and the Global Administratization of Criminal Convictions”, Máximo Langer, School of Law, University of California, Los Angeles, California 90095, USA.

6. “Plea-Bargaining, Negotiating Confessions and Consensual Resolution of Criminal Cases”, Stephen C. Thaman, Saint Louis University School of Law

7. “The value of Plea Bargaining” published on Oklahoma Law Review, No.58, 2005 (http://digitalcommons.law.ou.edu/olr).

8. “Cynthia Alkon, Plea Bargaining as a Legal Transplant: A Good Idea for Troubled Criminal Justice Systems”, 19 Transnat’l L. & Contemp. Probs. 355 (2010).

9. “Plea Bargaining and International Criminal Justice”, Jenia I. Turner Southern Methodist University, Dedman School of Law, 2017.

10. Plea-Bargaining - Negotiating Confession and Consensual Resolution of Criminal Cases, Stephen C. Thaman, Electronic Journal of Comparative Law, vol. 11.3 (December 2007), http://www.ejcl.org, 2007).

Theo Tạp chí Kiểm sát in số Chuyên đề tháng 8/2026