Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chứng cứ và chứng cứ điện tử

Ngày đăng : 14:39, 18/09/2026

(Kiemsat.vn) - Đặc tính của dữ liệu điện tử đặt ra những vấn đề đối với việc thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần quy định rõ hơn về chế định chứng cứ và bổ sung quy định về chứng cứ điện tử, dữ liệu điện tử, cách thức lưu trữ, bảo quản dữ liệu điện tử; bổ sung các quy định liên quan đến khám nghiệm hiện trường liên quan đến việc thu thập dữ liệu điện tử.

1. Nhận thức chung về chứng cứ được thu thập từ nguồn điện tử

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (gọi tắt là BLTTHS năm 2015) lần đầu tiên quy định dữ liệu điện tử (DLĐT) được coi là một trong những nguồn chứng cứ (khoản 1 Điều 87). Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự bùng nổ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông chi phối tất cả các hoạt động của đời sống xã hội và các thiết bị công nghệ được phát triển với số lượng và quy mô chưa từng có, việc thu thập chứng cứ từ nguồn DLĐT khác với thu thập thông thường, đặc biệt trong những trường hợp phục hồi DLĐT đã bị xóa, thu trên đường truyền, thu DLĐT trong các phần mềm, DLĐT có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chứng cứ được thu thập từ DLĐT đám mây (Icloud) khi thiết bị điện tử không còn nữa…

Xét về bản chất, chứng cứ nói chung và chứng cứ được thu thập từ nguồn DLĐT (chứng cứ điện tử) bắt buộc phải có đầy đủ ba thuộc tính là khách quan, liên quan và hợp pháp, có nghĩa đây là những thông tin có được từ nguồn DLĐT có khả năng truyền tải thông tin phản ánh về hành vi phạm tội đã xảy ra trong quá khứ, những vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội. Với những thông điệp truyền tải thông tin điện tử này giúp những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác có thể nhận được về hành vi phạm tội trong quá khứ thông qua năm giác quan chính (thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, vị giác). Do vậy, chứng cứ điện tử bắt buộc phải được khai thác từ nguồn DLĐT, nhưng có nguồn DLĐT chưa chắc đã có chứng cứ điện tử bởi chứng cứ điện tử chỉ có thể khai thác được từ nguồn DLĐT nếu có một thiết bị điện tử thích hợp, một phần mềm tương thích với thiết bị và có người biết sử dụng thiết bị điện tử, khi đó các DLĐT sẽ truyền tải tín hiệu điện tử tới giác quan con người bằng các thông điệp truyền tải thông tin điện tử là các chữ viết, chữ số, ký hiệu, ký tự, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự. Hay nói cách khác, chứng cứ điện tử chính là những thông tin về sự kiện pháp lý hình sự đã xảy ra trong quá khứ được biểu hiện dưới dạng thông điệp giao tiếp có thuộc tính khách quan, liên quan, hợp pháp được các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng xem xét, đánh giá; từ đó, hình thành những quan điểm, kết luận, quyết định trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Những DLĐT mà chỉ một chủ thể hoặc một số chủ thể đặc biệt mới có khả năng nhận thức hay không thể chuyển tải dưới dạng thông điệp giao tiếp thông thường thì không phải là chứng cứ.

Thuộc tính khách quan của thông tin khai thác được từ nguồn DLĐT phải là thông tin phản ánh đúng bản chất về sự vật, hiện tượng như nó vốn có. Thông tin mặc dù được thể hiện dưới một dạng thông điệp giao tiếp cụ thể nhưng được truyền tải tới người khác theo ý chủ quan, được tạo bởi trí tuệ nhân tạo hoặc kết hợp giữa ý thức chủ quan và trí tuệ nhân tạo mà không phản ánh đúng với bản chất của sự vật, hiện tượng là các sự kiện pháp lý hình sự thì đều không trở thành chứng cứ.

Thuộc tính liên quan của thông tin khai thác được từ nguồn DLĐT là những thông tin phải liên quan đến sự kiện pháp lý hình sự mà các chủ thể tố tụng đang xem xét có ý nghĩa trong việc giải quyết các vụ việc, vụ án hình sự và có khả năng làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh, những vấn đề khác có liên quan được quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, có khả năng đưa ra kết luận, quan điểm, hành vi áp dụng pháp luật của các chủ thể tố tụng.

Thuộc tính liên quan của thông tin khai thác được từ nguồn DLĐT - là những thông tin này phải được các chủ thể tố tụng thu thập, ghi nhận vào hồ sơ vụ việc, vụ án hình sự theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Những thông tin từ nguồn DLĐT mặc dù khách quan, phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng như nó vốn có và có khả năng giúp giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, nhưng không được ghi nhận, thu thập một cách hợp pháp theo trình tự mà pháp luật tố tụng hình sự quy định thì cũng không trở thành chứng cứ điện tử.

Với cách hiểu trên có thể thấy rằng chứng cứ điện tử đã có từ khi xã hội hình thành các thiết bị điện tử có khả năng truyền tải thông tin giữa người với người để phục vụ sinh hoạt trong đời sống xã hội như máy điện tín telex truyền tải thông tin mật mã Móoc-xơ (Morse) ra đời năm 1838 ; vô tuyến điện, đài phát thanh phát tín hiệu dạng analog; vô tuyến điện, đài phát thanh phát tín hiệu dạng kỹ thuật số digital. Trong đó, chứng cứ điện tử khai thác từ nguồn DLĐT kỹ thuật số chỉ xuất hiện bắt đầu vào những năm 1970 với sự ra đời của máy tính cá nhân cùng với công nghệ tiếp theo đã tạo ra một cuộc cách mạng về khả năng truyền tải thông tin một cách tự do và nhanh chóng tạo ra thời đại kỹ thuật số . Chỉ bằng hai số “0” và “1” tương ứng với việc đóng và ngắt mạch điện, con người đã giao tiếp được với máy tính, thông qua máy tính để tạo ra các định dạng và phát ra các tín hiệu được gọi là DLĐT, các DLĐT này có khả năng truyền tải các tín hiệu điện tử tác động đến các giác quan của con người khiến các giác quan cảm nhận được các thông điệp của thông tin dưới dạng chữ viết, chữ số, ký hiệu, ký tự, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự khác, được gọi là thông tin kỹ thuật số hay thông tin có nguồn gốc từ DLĐT. Như vậy, thông tin từ DLĐT có nhiều loại khác nhau như Móoc-xơ, analog, digital (kỹ thuật số) và mặc dù ngày nay thông tin từ dữ liệu kỹ thuật số rất phổ biến nhưng đến nay thì đây là nguồn DLĐT xuất hiện muộn nhất, nhưng phổ biến nhất, xét về nguồn gốc thì DLĐT kỹ thuật số là sản phẩm của máy vi tính, thiết bị điện tử, phương tiện điện tử kỹ thuật số.

Từ việc DLĐT kỹ thuật số (digital) có khả năng truyền tải các tín hiệu điện tử kỹ thuật số mang lại cho giác quan của con người những thông điệp của thông tin mà con người có khả năng trao đổi thông tin trong cuộc sống với nhau nên DLĐT kỹ thuật số đã trở thành một nguồn chứng cứ quan trọng trong kỷ nguyên số ngày nay giúp các chủ thể tố tụng phát hiện, tìm kiếm, khai thác, thu thập chứng cứ điện tử kỹ thuật số (Digital Evidence) nhằm sử dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án hình sự.

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chứng cứ thu thập từ nguồn dữ liệu điện tử (chứng cứ điện tử) và kiến nghị hoàn thiện

Hiện tại trong các văn bản pháp lý của Việt Nam, khái niệm “chứng cứ điện tử” (Electronic Evidence) hay “chứng cứ điện tử kỹ thuật số” (Digital Evidence) chưa được đề cập và thuật ngữ này cũng chưa được sử dụng rộng rãi, chủ yếu được sử dụng trong văn nói, trong giảng dạy khoa học pháp lý và một số công trình nghiên cứu. Do vậy, để hiểu được về những quy định của pháp luật hiện hành về chứng cứ điện tử thì chỉ có thể tìm hiểu thông qua các quy định của tố tụng về chế định chứng cứ, chế định DLĐT, mà cả hai khái niệm này tại Điều 86 và Điều 99 BLTTHS năm 2015 vẫn chưa thực sự rõ ràng.

Điều 86 BLTTHS năm 2015 kế thừa quy định của BLTTHS năm 2003 trong việc đưa ra khái niệm chứng cứ. Theo đó, chứng cứ được hiểu là: “Những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Việc xác định chứng cứ là những gì có thật, chúng tôi cho rằng dễ gây nhầm lẫn giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ, mặt khác sự thật là mục đích mà cơ quan tiến hành tố tụng cần làm sáng tỏ thông qua chứng cứ, nói cách khác sự thật là mục đích mà cơ quan tố tụng sử dụng phương tiện chứng cứ để chứng minh, làm rõ. Do vậy, chứng cứ nên được hiểu là những thông tin phản ánh về hành vi phạm tội và những vấn đề liên quan đến vụ án một cách chính xác, đầy đủ và được thu thập một cách hợp pháp giúp làm rõ sự thật về vụ án, những vấn đề liên quan được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng sử dụng để tranh tụng, giải quyết vụ án.

Với lập luận như vậy, chúng tôi đề xuất sửa đổi Điều 86 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “Chứng cứ là những thông tin được khai thác được từ nguồn chứng cứ có khả năng chứng minh làm sáng tỏ sự thật có hành vi phạm tội hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Vì chứng cứ được khai thác từ nguồn DLĐT có những thuộc tính rất khác so với chứng cứ từ nguồn chứng cứ khác như nêu trên, do vậy, chúng tôi cho rằng cũng cần đưa ra khái niệm chứng cứ điện tử để tránh việc nhận thức nhầm lẫn giữa chứng cứ điện tử và DLĐT, cụ thể: “Chứng cứ điện tử là những chứng cứ được khai thác từ nguồn dữ liệu điện tử”.

Theo Điều 99 BLTTHS năm 2015 thì: “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, các ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự mà con người có thể nhận biết được thông qua các thiết bị, phương tiện điện tử, phần mềm thích hợp cùng với con người biết sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử, phần mềm. Dữ liệu điện tử được định dạng, lưu trữ trong các thiết bị tương ứng với các đơn vị nhớ Bít (Bits), Bai (Bytes), có khả năng tạo ra các tín hiệu điện tử mà ở trạng thái tự nhiên chúng ta không thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc nhận biết những dữ liệu trong các thiết bị chứa đựng nó. Ví dụ: Một thẻ nhớ bằng trực quan chúng ta không thể thấy được hình ảnh, âm thanh, ký tự… nhưng khi lắp vào máy tính, sử dụng phần mềm thích hợp do người có khả năng sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử và phần mềm để đọc thẻ nhớ thì sẽ tạo ra các tín hiệu điện tử, khi tác động vào các giác quan của con người sẽ giúp nhận biết được các âm thanh, hình ảnh, ký tự… Tuy nhiên, chỉ cần thiếu một trong ba yếu tố (thiết bị điện tử thích hợp, phần mềm thích hợp, người có khả năng sử dụng) thì con người sẽ không thể thấy hay nhận biết được các thông điệp điện tử truyền tải thông tin dưới dạng chữ viết, chữ số, ký hiệu, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự.

Theo Điều 3 Luật giao dịch điện tử năm 2024 thì: Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự. Dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử.

Như vậy, để thống nhất giữa Luật giao dịch điện tử và BLTTHS thì khoản 1 Điều 99 BLTTHS năm 2015 có thể sửa đổi như sau: “Dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự. Dữ liệu điện tử có khả năng tạo ra thông điệp truyền tải thông tin điện tử dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”.

Khoản 3 Điều 99 BLTTHS năm 2015 quy định: “Giá trị chứng cứ của DLĐT được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”. Tiêu chí xác định giá trị của chứng cứ như vậy sẽ khiến những người sử dụng chứng cứ rất khó đánh giá bởi không thể biết được đâu là chứng cứ có giá trị cao, thấp hay ngang bằng nhau khi so sánh giá trị với nhau để sử dụng trong tranh tụng, buộc tội, gỡ tội hay kết tội hoặc làm căn cứ để đưa ra các quyết định, xử sự, hành vi tố tụng khác. Chúng tôi cho rằng giá trị chứng cứ của DLĐT có điều kiện tiên quyết là phải hợp pháp, nếu thông tin không hợp pháp thì không bao giờ trở thành chứng cứ. Ngoài ra để xác định chứng cứ nào có giá trị trong giải quyết vụ việc, vụ án hơn thì phải được đánh giá dựa vào tiêu chí khách quan, liên quan thông qua việc xem xét cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi DLĐT; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của DLĐT; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố khác. Nếu thông tin càng khách quan, càng liên quan thì càng có giá trị và ngược lại.

Vì DLĐT là một nguồn chứng cứ đặc biệt và luôn gắn với phương tiện điện tử nên Điều 107 BLTTHS năm 2015 quy định phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ DLĐT thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu DLĐT đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn DLĐT mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu DLĐT từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định DLĐT. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định DLĐT chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được. Phương tiện điện tử, DLĐT được bảo quản như vật chứng. Khi xuất trình chứng cứ là DLĐT phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao DLĐT.

Với quy định này, chúng tôi thấy rằng vẫn có những hạn chế, đó là chỉ có thể bảo quản phương tiện điện tử như bảo quản vật chứng, mà không thể bảo quản DLĐT như bảo quản vật chứng được vì không thể niêm phong DLĐT, không thể đưa vào kho DLĐT mà không có thiết bị lưu trữ… Mặt khác, DLĐT có thể sử dụng mật khẩu bắt buộc người dùng phải có mật khẩu mới đọc được nội dung, và bảo quản tại các nhà cung cấp dịch vụ bằng công nghệ điện toán đám mây (cloud computing), khi bảo quản tránh việc bị vi rút máy tính làm hỏng nội dung vốn có hoặc có thể sử dụng giá trị hàm Băm (hash function) để chứng minh tính toàn vẹn của DLĐT.

Chúng tôi cho rằng, Điều 107 BLTTHS năm 2015 cần sửa lại là: “Việc bảo quản dữ liệu điện tử được thực hiện bằng việc niêm phong cùng các thiết bị điện tử, phương tiện điện tử hoặc các cách thức bảo quản khác có khả năng đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử và đảm bảo khả năng khai thác thông tin khi cần thiết”.

Bên cạnh đó, khi thu thập chứng cứ điện tử, cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp khó khăn trong trường hợp dữ liệu không còn lưu trên thiết bị mà tồn tại trên nền tảng của bên thứ ba. Trong tình huống này, cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải tiếp cận dữ liệu thông qua chính đơn vị đang quản lý, vận hành nền tảng đó. Tác giả cho rằng, cần thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm phối hợp của nhà cung cấp dịch vụ số; theo đó, khi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu, các tổ chức cung cấp dịch vụ viễn thông, internet, mạng xã hội, nền tảng số… cũng như tổ chức, cá nhân có liên quan phải có trách nhiệm thực hiện trong thời hạn được yêu cầu; riêng trường hợp khẩn cấp thì phải đáp ứng, cung cấp ngay.

Điều 201 BLTTHS năm 2015 về khám nghiệm hiện trường có quy định: “Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án”. Chúng tôi cho rằng quy định này cũng cần có thay đổi vì DLĐT có thể thu được ở đám mây (icloud), đường truyền, phần mềm, trên không gian mạng…

Ngoài ra, Luật giao dịch điện tử năm 2023 cũng có nhiều quy định khác liên quan đến DLĐT mà thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự có thể vận dụng và cần được bổ sung trong BLTTHS như: Quy định về hình thức thể hiện của thông điệp DLĐT gồm hình thức văn bản điện tử, tài liệu điện tử, chứng thư điện tử, chứng từ điện tử, hợp đồng điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và hình thức trao đổi DLĐT khác theo quy định của pháp luật. Thông điệp dữ liệu được tạo ra, phát sinh trong quá trình giao dịch hoặc được chuyển đổi từ văn bản giấy; giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu; thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản; thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc; thông điệp dữ liệu có giá trị dùng làm chứng cứ; chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu; hình thức lưu trữ thông điệp dữ liệu… Như vậy, khác với chứng cứ truyền thống, chứng cứ điện tử giá trị không chỉ đánh giá trên các tiêu chí khách quan, liên quan và hợp pháp mà còn xác định dựa thêm vào cả tiêu chí cách thức đảm bảo và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp DLĐT và cách xác định của người khởi tạo thông điệp đó hoặc các yếu tố phù hợp khác.

Như vậy, với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng BLTTHS năm 2015 cần quy định rõ hơn về chế định chứng cứ và bổ sung quy định về chứng cứ điện tử, DLĐT, cách thức lưu trữ, bảo quản DLĐT; bổ sung các quy định liên quan đến khám nghiệm hiện trường trong BLTTHS liên quan đến việc thu thập DLĐT; Điều tra viên không chỉ tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm mà còn phải khám nghiệm theo cánh sóng, icloud, phần mềm, trên không gian mạng hoặc những khu vực khác có DLĐT; cần phải có các quy định liên quan đến tài phán đối với các tội phạm sử dụng mạng bưu chính, mạng viễn thông để phạm tội xuyên quốc gia với những trường hợp thực hiện tội phạm ở nước này với các bị hại ở nước khác bằng việc sử dụng nhà cung cấp dịch vụ ở nước thứ ba; cần bổ sung trong tố tụng về những yêu cầu trong việc phục hồi DLĐT bị xóa, thu thập DLĐT trên đường truyền, trên mạng internet, icloud, trong các phần mềm… để có thể cung cấp các chứng cứ điện tử phục vụ hoạt động tố tụng.

Bên cạnh đó, cũng cần quy định về nghĩa vụ lưu trữ thông tin của nhà cung cấp dịch vụ và kiểm soát thông tin về người dùng khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể : Quy định các nhà cung cấp dịch vụ có nghĩa vụ lưu giữ DLĐT liên quan đến người dùng internet trong thời gian tối thiểu với một số lượng ngày nhất định; việc yêu cầu xác định người truy cập Internet thông qua các thiết bị đầu cuối tại nơi công cộng thì buộc chủ sở hữu hoặc người phụ trách xác định những thông tin xác định các cá nhân này. Đồng thời, quy định việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện, thu thập chứng cứ, bảo quản, đánh giá và sử dụng DLĐT cần có những khung pháp lý cụ thể.

Nguyễn Đức Hạnh

----------------------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu hội thảo “Tập huấn điều tra tội phạm trên không gian mạng”, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Đại sứ quán Hoa Kỳ, Hạ Long, 11-15/7/2022.

2. PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh - TS. Lại Viết Quang (Đồng chủ biên), “Tội phạm mạng máy tính và công nghệ thông tin, truyền thông”, Nxb. Thanh niên (2021), Hà Nội.

3. Group 1 (2009) “Issues and measure concerning the legal framework to combat cybercrime”, Resource Material series No. 79, UNAFEI.

Theo Tạp chí Kiểm sát in số Chuyên đề tháng 8/2026