Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Ngày đăng : 18:14, 16/09/2026

(Kiemsat.vn) - Tạp chí điện tử Kiểm sát xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Huy Tiến, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng VKSND tối cao với tiêu đề: "Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển đất nước trong giai đoạn mới" đăng trên Tạp chí Kiểm sát in số Chuyên đề tháng 8/2026.

Thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh cải cách tư pháp và hoàn thiện thể chế, Viện kiểm sát nhân dân tối cao được giao chủ trì xây dựng dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi). Việc sửa đổi lần này không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập qua thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, mà quan trọng hơn, hướng tới đổi mới tư duy tố tụng trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại: Công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả và nhân văn; tăng cường phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân; đẩy mạnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

1. Quan điểm chỉ đạo về sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024 và 2025, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015), đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Qua hơn 08 năm thi hành, BLTTHS năm 2015 đã phát huy vai trò là đạo luật nền tảng điều chỉnh trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Tuy nhiên, cùng với những yêu cầu mới đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của BLTTHS về thẩm quyền, biện pháp ngăn chặn, thủ tục tố tụng, chứng cứ và dữ liệu điện tử, thủ tục rút gọn, xử lý vật chứng, tài sản đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tình hình mới.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng lớn về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh cải cách tư pháp; hoàn thiện thể chế phát triển đất nước; tăng cường hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đặc biệt, nhiều văn kiện quan trọng của Trung ương như: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới, các Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Kết luận số 19-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam”, Kết luận số 17-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVI, Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 06/6/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới cùng nhiều chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đặt ra những yêu cầu mới cần được thể chế hóa trong pháp luật tố tụng hình sự.

Đặc biệt, tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã nêu rõ yêu cầu: “Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự cần được thực hiện đồng bộ với quá trình nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật Hình sự và các luật liên quan, đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và khơi thông nguồn lực phát triển. Không tiếp cận sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ như sửa đổi một số thủ tục mang tính kỹ thuật, mà phải hoàn thiện dựa trên các nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại: Công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, nhân văn”.

Những yêu cầu đó cho thấy pháp luật tố tụng hình sự không chỉ là công cụ pháp lý để phát hiện, xử lý tội phạm, mà còn là thiết chế trung tâm bảo đảm thực thi quyền lực tư pháp, bảo vệ chế độ, bảo vệ Nhà nước, quyền con người, quyền công dân và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn mới phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu về dân chủ, công bằng, nhân văn; tăng cường tranh tụng, công khai, minh bạch; nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực tư pháp; bảo đảm quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả phòng ngừa, thu hồi tài sản và xử lý tội phạm xuyên quốc gia.
Quán triệt những yêu cầu và chỉ đạo trên, việc xây dựng BLTTHS (sửa đổi) được thực hiện trên 05 quan điểm cơ bản sau đây:

Một là, bám sát quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về cải cách tư pháp và phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, đấu tranh phòng, chống tội phạm theo hướng cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng hình sự, bảo đảm tính nghiêm minh, đề cao tính nhân văn, hướng thiện; phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả, tăng cường phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng các cấp; hoàn thiện các cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định; bảo đảm BLTTHS là luật nền tảng, trung tâm, vừa quy định căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, vừa quy định các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản còn lại có liên quan.

Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với điều ước quốc tế. Các nội dung sửa đổi phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật quốc gia và tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm với bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội và kiểm soát quyền lực; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế trên cơ sở phù hợp điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và mô hình tổ chức bộ máy của Việt Nam.

Ba là, đổi mới tư duy tố tụng theo hướng hiện đại, hiệu quả; đổi mới phương thức tổ chức điều hành và phối hợp hoạt động tố tụng trên cơ sở dữ liệu số, lấy hiệu quả giải quyết vụ việc, vụ án và bảo đảm quyền con người làm trung tâm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và số hóa toàn trình hoạt động tố tụng.
Bốn là, bám sát kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015, kế thừa những nội dung còn phù hợp, đang phát huy hiệu quả; sửa đổi, bổ sung, khắc phục những vướng mắc, bất cập, tạo điều kiện tốt hơn cho các chủ thể tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, bảo đảm tính khách quan, liên tục, kịp thời, hiệu quả trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.

Năm là, tuân thủ đúng nguyên tắc và trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Đảng và Nhà nước; bảo đảm kỹ thuật lập pháp khoa học, hiện đại, hợp lý, dễ hiểu, tạo thuận lợi cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng áp dụng, thực hiện.

Với cách tiếp cận đó, phạm vi sửa đổi BLTTHS lần này được xác định là sửa đổi toàn diện. Dự thảo BLTTHS sửa đổi (gọi tắt là Dự thảo) được bố cục thành 09 phần, 36 chương, có tổng số 514 điều, tăng 22 điều so với BLTTHS hiện hành; trong đó bổ sung 27 điều mới; sửa đổi, bổ sung 160 điều, giữ nguyên nội dung 354 điều và bãi bỏ 05 điều.

2. Những nội dung cơ bản của Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)

2.1. Đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả

Một trong những định hướng quan trọng của Dự thảo là cải cách thủ tục tố tụng nhằm giải quyết vụ việc, vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm khách quan, toàn diện, đúng pháp luật và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giảm thời gian, chi phí, nguồn lực tố tụng và khối lượng công việc của các cơ quan tiến hành tố tụng. Dự thảo chuẩn hóa quy trình tố tụng, tinh gọn trình tự, đơn giản hóa một số thủ tục hành chính tư pháp; lược bỏ một số thủ tục hành chính tư pháp để quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành.
Trên cơ sở bổ sung chế định về nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng, Dự thảo mở rộng trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn đối với bị can tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt. Đồng thời, để bảo đảm rõ ràng, đã bố cục lại chương XXXI về thủ tục rút gọn theo hướng tách riêng làm 03 mục gồm: (1) Các quy định chung; (2) Thủ tục rút gọn bắt buộc; (3) Thủ tục rút gọn trong trường hợp bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, nhận hình phạt. Bổ sung nguyên tắc áp dụng thủ tục rút gọn theo hướng: Việc áp dụng thủ tục rút gọn phải bảo đảm xác định đúng sự thật khách quan của vụ án; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người tham gia tố tụng. Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì việc nhận tội, chấp nhận hình phạt, đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn phải bảo đảm: (1) Bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn; (2) Bị can, bị cáo phải được giải thích đầy đủ về quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của việc áp dụng thủ tục; (3) Việc nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; lời nhận tội không được coi là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp vụ án đang được giải quyết theo thủ tục rút gọn bắt buộc mà bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng thì cơ quan tiến hành tố tụng lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và áp dụng chính sách khoan hồng đối với bị can, bị cáo. Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì cơ quan tiến hành tố tụng lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và xem xét áp dụng chính sách khoan hồng.

Sửa đổi, bổ sung điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, cụ thể: (1) Đối với áp dụng thủ tục rút gọn bắt buộc, Dự thảo sửa đổi các điều kiện áp dụng để bảo đảm pháp luật thực sự đi vào cuộc sống. Trong đó: (i) Bổ sung các trường hợp được áp dụng thủ tục rút gọn, gồm: Người phạm tội ra đầu thú; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (ii) Bỏ điều kiện “người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 456 Bộ luật hiện hành; (iii) Sửa đổi điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm theo hướng chỉ quy định điều kiện: Vụ án chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo, giảm trách nhiệm dân sự. (2) Bổ sung thủ tục rút gọn khi bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt khi có đủ các điều kiện sau: (i) Bị can, bị cáo tự nguyện thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh, chứng cứ và các tình tiết khách quan của vụ án, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp được cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị áp dụng để được hưởng khoan hồng theo quy định của Bộ luật này và Bộ luật Hình sự; (ii) Trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại thì bị can, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc có cam kết và biện pháp cụ thể để tiếp tục khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (iii) Có biên bản ghi nhận việc bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn. Việc lập biên bản có sự tham gia của người bào chữa theo quy định của Bộ luật này; trường hợp không có người bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng mời người chứng kiến; (iv) Có đủ chứng cứ để kết luận về hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và căn cứ kết tội; việc nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Bổ sung thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục khi áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp nhận tội, chấp nhận hình phạt tại Mục 3 Chương XXXI của Dự thảo.

2.2. Đổi mới thủ tục tố tụng bảo đảm phân hóa và khoan hồng trong xử lý tội phạm

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển kinh tế; tạo động lực, cơ hội để người phạm tội đầu thú, tự thú, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan tố tụng; chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả; bảo đảm nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục; góp phần rút ngắn quy trình tố tụng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án, bảo đảm xử lý tội phạm nhanh chóng, hiệu quả; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản; giảm xử lý hình sự, giảm số vụ án phải giải quyết theo thủ tục thông thường, góp phần giảm tải áp lực cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giảm chi phí, nguồn lực tố tụng; tăng tính công khai, minh bạch trong giải quyết vụ việc, vụ án, xử lý tội phạm, Dự thảo quy định:

(1) Bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc: “Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án”, theo hướng bổ sung quy định để xử lý có lợi cho người bị buộc tội trong trường hợp khởi tố vụ án, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và giải thích, áp dụng pháp luật theo quy định mà vẫn chưa rõ căn cứ định tội danh, áp dụng tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, xác định hậu quả của tội phạm hoặc các vấn đề khác làm căn cứ quyết định trách nhiệm hình sự và bổ sung nguyên tắc: “Bảo đảm phân hóa thủ tục tố tụng hình sự và thực hiện chính sách khoan hồng”, theo hướng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vai trò, nhân thân, thái độ khai báo, mức độ hợp tác, việc khắc phục hậu quả của người phạm tội và các căn cứ khác theo quy định của pháp luật để áp dụng thủ tục tố tụng phù hợp đối với từng trường hợp cụ thể theo quy định của Bộ luật này, bảo đảm giải quyết vụ việc, vụ án kịp thời, công bằng, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, khắc phục hậu quả thì được xem xét áp dụng thủ tục rút gọn và được hưởng khoan hồng theo quy định của pháp luật; đồng thời, thiết kế các thủ tục tương ứng để phân hóa, xử lý trong từng trường hợp như miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục rút gọn trong trường hợp nhận tội, chấp nhận hình phạt...

(2) Bổ sung trình tự, thủ tục để mở rộng các trường hợp không khởi tố khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự.

(3) Bổ sung thủ tục trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự tại Chương IX Dự thảo để bảo đảm đồng bộ với Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), theo đó bổ sung quy định về việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể xem xét, quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27a của Bộ luật Hình sự (chỉ áp dụng đối với người phạm tội quy định tại chương các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế); quy định về điều kiện tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: (i) Người được xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự có đơn đề nghị; (ii) Tự nguyện thừa nhận trách nhiệm đối với hành vi, hậu quả xảy ra; cam kết hợp tác với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (iii) Có phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục khác kèm theo các tài liệu chứng minh khả năng thực hiện được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấp thuận; (iv) Có cam kết bảo đảm thực hiện của tổ chức, cá nhân có liên quan, nếu có. Đồng thời, quy định giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết nội dung này.

Quy định rõ khi tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo. Trong thời hạn tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện cam kết của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội để quyết định: (1) Miễn trách nhiệm hình sự nếu đã khắc phục đầy đủ hậu quả và đáp ứng điều kiện luật định; (2) Phục hồi giải quyết vụ việc, vụ án nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết hoặc không đáp ứng điều kiện miễn trách nhiệm hình sự; (3) Trường hợp vi phạm cam kết, bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn, cản trở việc giải quyết vụ việc, vụ án thì hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thái độ hợp tác và hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được ghi nhận làm căn cứ xem xét áp dụng chính sách khoan hồng. Bên cạnh đó, quy định thẩm quyền, thủ tục quyết định việc tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự ở từng giai đoạn tố tụng; nội dung của quyết định tạm đình chỉ; quyền khiếu nại của người tham gia tố tụng và giao cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chi tiết việc thi hành; quy định thời hạn tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự (chỉ được áp dụng một lần đối với một vụ việc, vụ án và thời hạn không quá 02 năm kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, cơ quan đã ra quyết định tạm đình chỉ có thể quyết định gia hạn một lần không quá 01 năm); trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện phương án, cam kết trong thời gian tạm đình chỉ và việc xác định thời hạn tố tụng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.

2.3. Hoàn thiện chế định thẩm quyền tố tụng; tăng cường kiểm soát quyền lực; bảo đảm tốt hơn quyền con người

Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành còn phù hợp, Dự thảo tiếp tục hoàn thiện thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; phân định rõ hơn thẩm quyền giữa các cấp tố tụng; đẩy mạnh phân quyền gắn với tăng cường trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; đồng thời hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo đảm tốt hơn quyền con người, nhất là quyền bào chữa của người bị buộc tội. Theo đó, Dự thảo tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung sau:

(1) Hoàn thiện quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng: (i) Đối với Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Sửa đổi quy định về hệ thống, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các Cơ quan điều tra; (ii) Đối với Viện kiểm sát, Tòa án về cơ bản giữ nguyên như hiện hành; hoàn thiện quy định về phân định thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng với những người trực tiếp tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán). Tăng thẩm quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tố tụng để chủ động trong thực thi nhiệm vụ theo hướng: Bổ sung cho Điều tra viên thẩm quyền quyết định thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài sản; tiến hành nhận biết giọng nói; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này. Bổ sung cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công thẩm quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội rất nghiêm trọng nhưng tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng xảy ra trên địa bàn cấp xã; bổ sung quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để bảo đảm thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, như: Lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ; trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường; đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói; xử lý vật chứng; quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định... Bổ sung cho Kiểm sát viên thẩm quyền quyết định thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này. Bổ sung quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thẩm quyền quyết định xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

(2) Thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Quy định số 183-QĐ/TW ngày 18/9/2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Dự thảo bổ sung nguyên tắc “Bảo vệ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Theo đó, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp trái pháp luật, tác động, gây áp lực, đe dọa, trả thù, trù dập hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Đồng thời, để cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại Chương XXXIV Dự thảo đã bổ sung các quy định cụ thể về việc bảo vệ.

(3) Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo hướng: (i) Sửa đổi quy định về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp để bảo đảm thống nhất với Bộ luật Hình sự về các trường hợp chuẩn bị phạm tội; sửa đổi quy định về việc khi thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì không cần phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng kiến; (ii) Nhằm hạn chế tạm giam, dự thảo Bộ luật sửa đổi các nội dung: Mở rộng các trường hợp không bị áp dụng biện pháp tạm giam theo hướng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt từ 02 năm đến 03 năm thì chỉ bị tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã (theo Bộ luật hiện hành thì họ bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119); (iii) Bổ sung biện pháp ngăn chặn giám sát điện tử, trong đó quy định đầy đủ về căn cứ, thẩm quyền, thời hạn, trình tự áp dụng, thay thế, hủy bỏ nhằm bảo đảm chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân; đồng thời, bổ sung quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành biện pháp này; (iv) Bổ sung trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; (v) Bổ sung biện pháp “tiền” cưỡng chế tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản; đồng thời giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết nội dung này.

(4) Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về thủ tục bào chữa, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người tham gia tố tụng theo hướng: (i) Bổ sung trường hợp chỉ định người bào chữa gồm: Bị can, bị cáo thuộc trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt. Đồng thời bổ sung quy định đối với trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt thì không được quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa chỉ định; (ii) Bổ sung quy định về thời điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự được tham gia tố tụng; đồng thời bổ sung thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.

2.4. Đổi mới phương thức hoạt động tố tụng hình sự theo hướng thực hiện tố tụng điện tử

Nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hoạt động tố tụng; rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc, vụ án; giảm chi phí và nguồn lực xã hội; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu số trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ bí mật đời tư cá nhân, dự thảo Bộ luật quy định:

(1) Bổ sung khái niệm về “tố tụng điện tử” theo hướng: Tố tụng điện tử là phương thức tổ chức và thực hiện hoạt động tố tụng trên môi trường số, trong đó hồ sơ vụ việc, vụ án, tài liệu, dữ liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng và các hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được tạo lập, thu thập, trao đổi, quản lý, lưu trữ, sử dụng và thực hiện bằng phương tiện điện tử, theo quy định của Bộ luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

(2) Bổ sung nguyên tắc quy định về “Hoạt động tố tụng điện tử” theo hướng: (i) Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện hoạt động tố tụng điện tử trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; (ii) Hoạt động tố tụng điện tử có giá trị pháp lý. Việc thực hiện hoạt động tố tụng điện tử phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm tính hợp pháp, xác thực, toàn vẹn, khả năng truy xuất, bảo mật, an ninh dữ liệu và không làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; (iii) Văn bản tố tụng, biên bản, tài liệu khác liên quan đến vụ việc, vụ án được lập bằng phương thức điện tử phải được chuyển ngay trên hệ thống quản lý án hình sự theo quy định của Bộ luật này.

(3) Nhằm tạo cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ hợp tác của các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới và các tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam trong việc cung cấp dữ liệu điện tử phục vụ hoạt động tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong môi trường số, dự thảo Bộ luật bổ sung quy định khi nhận được yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì tổ chức cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng xã hội, điện toán đám mây, dịch vụ lưu trữ dữ liệu, nền tảng số hoặc dịch vụ trực tuyến khác và tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam có trách nhiệm thực hiện trong thời hạn yêu cầu; trường hợp khẩn cấp phải thực hiện ngay theo quy định của pháp luật.

(4) Sửa đổi quy định về thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử (Điều 113 Dự thảo) theo hướng giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.

(5) Quy định cụ thể về việc “số hóa” hồ sơ vụ án, theo đó, hồ sơ vụ việc, vụ án được lập, quản lý và lưu trữ dưới dạng điện tử. Trường hợp tài liệu được lập bằng văn bản giấy phải được số hóa để đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử theo quy định. Hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử có mã quản lý duy nhất và được chia sẻ liên thông trên hệ thống quản lý án hình sự giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định. Đối với hoạt động tố tụng, tài liệu, vật chứng, tài sản hoặc đối tượng khác không thể thực hiện bằng phương thức điện tử thì thông tin về việc tạo lập, thu thập, quản lý, chuyển giao và xử lý phải được ghi nhận trong hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử.

(6) Quy định rõ về việc tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và quy định rõ không tổ chức phiên tòa trực tuyến trong một số trường hợp (luật hóa Nghị quyết số 33/2021/QH15 của Quốc hội về phiên tòa trực tuyến).

2.5. Đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trên cơ sở rà soát, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của Phần thứ tám về hợp tác quốc tế với các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, đặc biệt là Luật tương trợ tư pháp về hình sự và Luật dẫn độ, Dự thảo sửa đổi căn cứ xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo hướng việc xem xét được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự.

2.6. Luật hóa các chế định đã triển khai thí điểm; sửa đổi, bổ sung thủ tục tố tụng hình sự để khắc phục vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn

Dự thảo sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm luật hóa Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 của Quốc hội thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự; khắc phục vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015, cụ thể:

(1) Bổ sung quy định về xử lý sớm vật chứng, tài sản; theo đó, giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nội dung này. Đồng thời, mở rộng việc xử lý đối với vật chứng thuộc loại giảm giá trị nhanh, chi phí bảo quản lớn; quy định rõ hơn về việc xử lý vật chứng thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản, giảm giá trị nhanh, chi phí bảo quản lớn thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không còn giá trị sử dụng thì tiêu hủy; trường hợp không bán được thì giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

(2) Sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các nội dung, chế định khác như: Quy định về tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt,…

3. Kết luận

Sửa đổi toàn diện BLTTHS năm 2015 là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn phát triển đất nước. Đây không chỉ là sự điều chỉnh đơn thuần về kỹ thuật lập pháp hay việc bổ sung một số thủ tục mới, mà là bước hoàn thiện quan trọng về tư duy, nguyên tắc, cơ chế vận hành và phương thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự.

Xuyên suốt Dự thảo là yêu cầu tiếp tục đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả; hoàn thiện chế định thẩm quyền, tăng cường phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân; đồng thời đổi mới phương thức hoạt động tố tụng hình sự theo hướng hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các nội dung sửa đổi cũng thể hiện rõ yêu cầu bảo đảm tính nghiêm minh, đề cao tính nhân văn, hướng thiện; nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc, vụ án, thu hồi tài sản; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015.

Với những yêu cầu và định hướng đó, Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; góp phần phòng chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm và ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực, bảo đảm xử lý tội phạm nghiêm minh, nhân văn, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.