Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới
Ngày đăng : 11:28, 02/09/2026
Từ phát triển theo địa giới hành chính sang tổ chức không gian theo chức năng và lợi thế
Nghị quyết số 27-NQ/TW được ban hành trên cơ sở đánh giá kết quả sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội. Theo đó, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của phát triển vùng được nâng cao; liên kết vùng từng bước được tăng cường; tiềm năng, lợi thế của các địa phương và từng vùng từng bước được phát huy.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục. Phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra; các nguồn lực xã hội chưa được khơi thông và phát huy hiệu quả; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm. Một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân, lan tỏa; liên kết vùng còn yếu và chưa hiệu quả.
Từ thực tiễn đó, Nghị quyết yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng; thúc đẩy liên kết và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương, các vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Một trong những quan điểm có tính định hướng là xác định phát triển vùng không đơn thuần là phát triển từng địa phương, mà là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Theo đó, Nghị quyết đặt yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực. Nội lực được xác định là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, đồng thời kết hợp hiệu quả với ngoại lực, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao.
Không gian phát triển quốc gia được tổ chức thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước. Các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và trung tâm kinh tế phải được phát huy theo hướng liên kết, bổ trợ và lan tỏa lẫn nhau; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường.
Đặc biệt, Nghị quyết xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.
Phát huy các vùng động lực, cực tăng trưởng và hành lang kinh tế
Mục tiêu tổng quát được Nghị quyết xác định là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh và bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địa phương.
Cùng với đó là phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng; bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, duy trì môi trường hòa bình, ổn định.
Đến năm 2045, Nghị quyết đặt tầm nhìn các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao và kết nối thông suốt. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính của tăng trưởng và phát triển.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết yêu cầu tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Định hướng phát triển cần chuyển từ tổ chức lại không gian chủ yếu theo địa giới hành chính tỉnh, thành phố sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và các mối liên kết vùng, liên kết ngành, tiểu vùng và địa phương.
Quy hoạch vùng phải được điều chỉnh đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch ngành, gắn với đổi mới mô hình phát triển đất nước, bảo đảm tầm nhìn dài hạn, liên ngành, liên vùng và khả năng thích ứng với những thay đổi về công nghệ, thị trường, dân số và khí hậu.
Cùng với đó, cần ưu tiên nguồn lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá của quy hoạch vùng; quan tâm đầu tư cho các cực tăng trưởng để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho cả vùng. Các hành lang kinh tế được hình thành và phát triển nhằm kết nối hiệu quả các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia, khai thác không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Nghị quyết cũng yêu cầu đầu tư phát triển các hành lang kinh tế để tạo thành những trục kết nối giao thông và không gian kinh tế xuyên suốt, kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển quan trọng; tiếp tục hình thành các vùng động lực quốc gia với định hướng, cơ cấu kinh tế phù hợp để dẫn dắt phát triển vùng và các địa phương.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới
Một trong những yêu cầu được Nghị quyết nhấn mạnh là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng. Cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực vùng phải thực sự mạnh, thực chất, hiệu quả, nhất là đối với các công trình liên vùng.
Theo nguyên tắc được xác định, đối với các công trình liên vùng, các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi, không phát sinh các khâu trung gian. Đối với các công trình liên ngành, liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia, phải có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm.
Nghị quyết đồng thời yêu cầu tiếp tục rà soát, đánh giá các cơ chế, chính sách đặc thù đối với một số địa phương; trên cơ sở đó đề xuất nhân rộng, sửa đổi, bổ sung phù hợp. Liên kết vùng được đẩy mạnh theo không gian phát triển và chuỗi giá trị, lấy các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và đô thị động lực làm hạt nhân.
Mô hình tăng trưởng của vùng được định hướng đổi mới mạnh mẽ theo hướng phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế số, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu, trục xuyên suốt trong phát triển vùng.
Cùng với đó, phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển. Các thị trường khoa học - công nghệ, vốn và lao động được phát triển đồng bộ; kết cấu hạ tầng được xác định là một ngành kinh tế chiến lược, tạo ra thị trường lớn để phát triển năng lực sản xuất trong nước.
Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số phải được triển khai gắn với sự phát triển của các ngành công nghiệp nội địa như xây dựng, cơ khí, luyện kim, vật liệu mới, thiết bị điện, tín hiệu, tự động hóa, phần mềm, tư vấn thiết kế và quản lý vận hành. Qua đó tạo không gian để doanh nghiệp Việt Nam tích lũy công nghệ, kinh nghiệm và năng lực thực hiện các công đoạn có giá trị gia tăng, làm chủ công nghệ cao và các dự án lớn.
Nguồn lực cũng được định hướng chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu dựa vào đất đai, khoáng sản và ngân sách nhà nước sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt nguồn lực toàn xã hội. Đầu tư công tập trung vào những công trình nền tảng, thiết yếu, liên vùng, hạ tầng công ích và hạ tầng xã hội thiết yếu, nhất là tại các vùng khó khăn, qua đó dẫn dắt, lan tỏa và tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ.
Phát triển hạ tầng, đô thị, nguồn nhân lực gắn với khoa học, công nghệ
Nghị quyết xác định tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ và hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng để mở rộng không gian phát triển và khơi thông các nguồn lực. Các loại hình hạ tầng được tổ chức thống nhất theo hành lang kinh tế và không gian phát triển vùng.
Trong đó, ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông trục xương sống Bắc - Nam và hành lang Đông - Tây thế hệ mới; phát triển đường sắt kết nối các cảng biển lớn, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị, đường sắt vùng, nhất là đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Đồng thời phát triển giao thông đường thủy, vận tải đa phương thức và nâng cao năng lực logistics.
Đối với hệ thống đô thị, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện quy hoạch theo hướng phát triển các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế - đô thị, trung tâm kinh tế và đô thị động lực có vai trò dẫn dắt, lan tỏa trong vùng và giữa các vùng; phát triển các mô hình đô thị xanh, đô thị thông minh, đô thị nén, đồng bộ với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước được xác định là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến khích một số địa phương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đóng vai trò cực tăng trưởng của vùng. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2045 xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết yêu cầu tập trung đột phá để chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của từng vùng; thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài trong và ngoài nước, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và các công nghệ mới nổi.
Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực các địa phương, từng vùng; hình thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo có khả năng dẫn dắt và lan tỏa tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển hạ tầng số, tài nguyên số, không gian số, cơ sở dữ liệu lớn và kinh tế dữ liệu.
Phát triển hài hòa, bảo đảm an sinh, môi trường và quốc phòng, an ninh
Phát triển vùng theo Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ đặt trọng tâm vào tăng trưởng kinh tế mà còn yêu cầu phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Nghị quyết yêu cầu lấy bản sắc văn hóa và các giá trị truyền thống của các vùng làm nguồn lực phát triển; thúc đẩy liên kết giữa các địa phương để hình thành các trục di sản, văn hóa, du lịch liên vùng. Hệ thống y tế vùng được phát triển toàn diện, đồng bộ, hiện đại, kết nối, bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe giữa các vùng. Hệ thống an sinh xã hội được định hướng theo hướng toàn diện, đa tầng, hiện đại, chủ động, thích ứng, bao trùm và liên vùng.
Về môi trường, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học phù hợp với quy hoạch vùng và Quy hoạch tổng thể quốc gia. Ưu tiên xử lý các vấn đề có tính liên vùng như ô nhiễm nước, chất thải rắn, chất thải nguy hại, suy giảm đa dạng sinh học; thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp và kinh tế tuần hoàn.
Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết đặt yêu cầu tiếp tục tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế để huy động nguồn lực cho đầu tư hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường kết nối và phát triển vùng.
Tổ chức thực hiện đồng bộ, xác định rõ trách nhiệm
Để bảo đảm Nghị quyết được triển khai hiệu quả, Bộ Chính trị yêu cầu các ban đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện.
Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật, nghị quyết có liên quan và tăng cường giám sát việc thực hiện. Đảng ủy Chính phủ có trách nhiệm ban hành Chương trình hành động triển khai Nghị quyết; hoàn thiện cơ chế điều phối và kết nối phát triển vùng; xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện của từng vùng, từng địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Các tổ chức đảng, cơ quan Trung ương được giao phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển vùng. Công tác quán triệt, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết cũng được xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 thay thế các Nghị quyết số 11-NQ/TW, 13-NQ/TW, 23-NQ/TW, 24-NQ/TW, 26-NQ/TW và 30-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, có hiệu lực kể từ ngày ký.