Công tác kiến nghị của VKSND thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích theo Nghị quyết số 205/2025/QH15

Ngày đăng : 12:09, 31/08/2026

(Kiemsat.vn) - Việc nâng cao hiệu quả công tác kiến nghị của VKSND không chỉ là yêu cầu về mặt tố tụng, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm hiệu quả bảo vệ lợi ích công cộng, quyền con người và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Để thực hiện mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và ứng dụng công nghệ số.

Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/06/2025 của Quốc hội khóa XV về thí điểm VKSND khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công (Nghị quyết số 205/2025) trao cho VKSND thẩm quyền chủ động hơn trong việc phát hiện vi phạm, khởi kiện vụ án dân sự công ích và thực hiện quyền kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Khác với hoạt động kiến nghị trong tố tụng dân sự truyền thống, kiến nghị của VKSND trong tố tụng dân sự công ích không chỉ giới hạn ở việc yêu cầu khắc phục vi phạm cụ thể, mà còn hướng tới xử lý các nguyên nhân mang tính hệ thống, hoàn thiện chính sách pháp luật và bảo vệ lợi ích xã hội trên diện rộng. Vì vậy, việc tăng cường công tác kiến nghị của VKSND thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh ở nước ta hiện nay.

1. Về công tác kiến nghị của VKSND thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích

Theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật tổ chức VKSND năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật tổ chức VKSND năm 2014), VKSND có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong quá trình thực hiện chức năng này, VKSND có quyền ban hành kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan khi phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp; những sơ hở trong công tác quản lý; khoảng trống hoặc mâu thuẫn của pháp luật và những vấn đề ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân và lợi ích công cộng. Theo khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014: “...2. Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật”.

Trong tố tụng dân sự công ích, quyền kiến nghị không chỉ phát sinh từ hoạt động kiểm sát xét xử, mà còn từ chính thực tiễn khởi kiện và tham gia giải quyết vụ án dân sự công ích. Như vậy, công tác kiến nghị của VKSND thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích được hiểu là hoạt động pháp lý do VKSND thực hiện trên cơ sở kết quả kiểm sát, điều tra, xác minh và giải quyết vụ án dân sự công ích nhằm phát hiện nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm lợi ích công cộng; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khắc phục vi phạm; đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước và phòng ngừa vi phạm trong tương lai.

Bản chất pháp lý của công tác kiến nghị của VKSND thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích thể hiện ở ba khía cạnh cơ bản sau đây: (1) Là công cụ thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật và bảo vệ lợi ích công cộng của VKSND. Khác với tranh chấp dân sự thông thường chỉ liên quan đến lợi ích cá nhân, vụ án dân sự công ích gắn trực tiếp với lợi ích xã hội, trật tự công cộng và quyền của cộng đồng; (2) Kiến nghị của VKSND mang tính phòng ngừa xã hội cao. Nếu bản án chủ yếu giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm thì kiến nghị hướng đến xử lý nguyên nhân và điều kiện phát sinh vi phạm; (3) Kiến nghị có giá trị phản biện chính sách và hoàn thiện thể chế pháp luật. Thông qua thực tiễn giải quyết vụ án dân sự công ích, VKSND có khả năng phát hiện “khoảng trống pháp luật”, sự chồng chéo của văn bản quy phạm pháp luật hoặc những bất cập trong quản lý nhà nước để đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn xã hội.

2. Thực tiễn thực hiện công tác kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích

2.1. Những kết quả đạt được

Trong 06 tháng đầu năm 2026, ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong triển khai nhiệm vụ trọng tâm đột phá về thí điểm khởi kiện vụ án dân sự công ích theo Nghị quyết số 205/2025. Trước hết, số lượng thông tin vụ việc dân sự công ích được tiếp nhận tương đối lớn đã phản ánh nhu cầu thực tiễn rất cao đối với cơ chế bảo vệ lợi ích công bằng con đường tố tụng dân sự công ích. Theo thống kê, Viện kiểm sát các cấp đã tiếp nhận 858 thông tin vụ việc dân sự công ích; trong đó đã xử lý 652 thông tin và đang tiếp tục kiểm tra, xác minh đối với 206 thông tin[1]. Kết quả này cho thấy ngành Kiểm sát nhân dân đã chủ động thiết lập cơ chế tiếp nhận, sàng lọc và xử lý thông tin tương đối hiệu quả, bước đầu hình thành mạng lưới phát hiện vi phạm liên quan đến lợi ích công trong nhiều lĩnh vực như môi trường, đất đai, bảo vệ người tiêu dùng, an toàn thực phẩm và bảo vệ nhóm yếu thế. Đáng chú ý, trên cơ sở nguồn thông tin tiếp nhận, Viện kiểm sát các cấp đã tiến hành thụ lý 279 vụ việc dân sự công ích[2]. Điều này phản ánh sự chuyển biến rõ nét từ chức năng kiểm sát thụ động sang cơ chế chủ động phát hiện, xác minh và tham gia bảo vệ lợi ích công cộng. Việc thụ lý số lượng lớn vụ việc trong thời gian ngắn cũng cho thấy quyết tâm chính trị cao của toàn ngành trong triển khai nhiệm vụ thí điểm mà Quốc hội giao. Bên cạnh đó, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Trong 06 tháng đầu năm 2026, Viện kiểm sát đã ban hành 69 quyết định yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn và khắc phục hậu quả[3]. Đây là cơ chế đặc biệt quan trọng bởi mục tiêu của tố tụng dân sự công ích không chỉ dừng lại ở xử lý tranh chấp mà còn hướng tới việc ngăn ngừa thiệt hại tiếp tục xảy ra, khôi phục lợi ích công bị xâm hại và bảo đảm trật tự quản lý nhà nước và lợi ích cộng đồng. Thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, cá nhân sau khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát đã chủ động chấm dứt vi phạm, khắc phục hậu quả mà không cần phải đưa vụ việc ra xét xử tại Tòa án. Điều này góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng và nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật.

Một kết quả nổi bật khác là công tác kiến nghị tiếp tục được tăng cường mạnh mẽ. Toàn ngành đã ban hành được 08 kiến nghị khởi kiện; 299 kiến nghị phòng ngừa, khắc phục vi phạm pháp luật[4]. Các kiến nghị này tập trung vào yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục sơ hở trong quản lý nhà nước; chấm dứt hành vi xâm hại lợi ích công; tăng cường bảo vệ quyền lợi của người dân và cộng đồng; hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm hạn chế phát sinh vi phạm tương tự. Đặc biệt, số lượng 299 kiến nghị phòng ngừa cho thấy ngành Kiểm sát nhân dân đã phát huy tốt chức năng phòng ngừa vi phạm pháp luật, không chỉ xử lý hậu quả mà còn hướng tới kiểm soát nguyên nhân và điều kiện phát sinh vi phạm. Đây là điểm tiến bộ quan trọng của cơ chế tố tụng dân sự công ích, góp phần nâng cao hiệu lực quản trị nhà nước và hiệu quả bảo vệ lợi ích công cộng.

2.2. Một số hạn chế, khó khăn

Một là, hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ: Pháp luật dân sự thiếu cơ chế cho tố tụng dân sự công ích. Một số vấn đề chưa được quy định đầy đủ như: Khái niệm lợi ích công cộng; tiêu chí xác định vụ án dân sự công ích; cơ chế khởi kiện tập thể; trình tự đại diện lợi ích công; cơ chế thi hành bản án công ích; trách nhiệm thực hiện kiến nghị. Sự thiếu đồng bộ này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện quyền kiến nghị của VKSND. Bộ luật Tố tụng dân sự cũng chưa quy định rõ: Chủ thể khởi kiện công ích; phạm vi vụ án dân sự công ích; cơ chế đại diện cộng đồng; xác định thiệt hại công cộng; thi hành bản án công ích. Điều này hạn chế khả năng thực hiện quyền kiến nghị của VKSND.

Hai là, hạn chế về nguồn lực và chuyên môn: Các vụ án dân sự công ích thường liên quan nhiều lĩnh vực chuyên ngành; tuy nhiên, đội ngũ Kiểm sát viên hiện nay chưa được đào tạo chuyên sâu đồng đều về một số lĩnh vực như môi trường, công nghệ số, dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo, tài chính tiêu dùng, điều tra xã hội học. Điều này gây khó khăn trong việc phát hiện vi phạm và xây dựng kiến nghị có chất lượng cao.

Ba là, thiếu cơ chế phối hợp liên ngành và cơ chế tiếp nhận và phản hồi kiến nghị hiệu quả: Hiệu quả công tác kiến nghị phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa VKSND, Tòa án, cơ quan Thanh tra, cơ quan quản lý chuyên ngành, tổ chức xã hội, cơ quan nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, cơ chế chia sẻ dữ liệu và phối hợp xử lý vi phạm hiện nay còn phân tán, thiếu thống nhất và chưa đáp ứng yêu cầu của tố tụng dân sự công ích hiện đại, thiếu cơ chế tiếp nhận và phản hồi kiến nghị hiệu quả. Nhiều kiến nghị của VKSND chưa được xử lý kịp thời hoặc chưa có tính ràng buộc mạnh mẽ, dẫn đến giảm hiệu quả của hoạt động kiến nghị.

3. Giải pháp tăng cường công tác kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thông qua khởi kiện vụ án dân sự công ích

Một là, hoàn thiện pháp luật về tố tụng dân sự công ích và hoạt động kiến nghị của VKSND.

- Thể chế hóa đầy đủ cơ chế tố tụng dân sự công ích:

Mặc dù Nghị quyết số 205/2025 đã tạo cơ sở pháp lý bước đầu cho cơ chế tố tụng dân sự công ích, nhưng nhiều nội dung vẫn mang tính chất thí điểm và chưa được luật hóa đầy đủ; dẫn đến nguy cơ thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: (1) Bổ sung chương riêng về tố tụng dân sự công ích; (2) Xác định rõ khái niệm “lợi ích công cộng”; (3) Quy định cụ thể tiêu chí xác định vụ án dân sự công ích; (4) Làm rõ quyền khởi kiện của VKSND; (5) Quy định cơ chế đại diện lợi ích công; (6) Xây dựng thủ tục tố tụng đặc thù đối với vụ án dân sự công ích. Đặc biệt, pháp luật cần xác định rõ phạm vi quyền kiến nghị của VKSND trong quá trình giải quyết vụ án dân sự công ích. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm kiến nghị không chỉ mang tính hình thức mà trở thành công cụ pháp lý có hiệu quả thực tế.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy trình nghiệp vụ kiểm sát tố tụng dân sự công ích gồm 05 bước: (1) Tiếp nhận thông tin từ công dân, báo chí, cơ quan quản lý, hoặc phản ánh trực tuyến; (2) Xác minh, thu thập chứng cứ, phối hợp cơ quan chuyên môn; (3) Báo cáo Ủy ban Kiểm sát thảo luận, xác định tính chất công ích; (4) Ra quyết định khởi kiện, nộp đơn tại Tòa án và tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn; (5) Tổng kết, rút kinh nghiệm, báo cáo VKSND tối cao. Quy trình này bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ và có thể nhân rộng.

- Hoàn thiện pháp luật về thực hiện quyền kiến nghị của Viện kiểm sát:

Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cơ quan nhận kiến nghị chậm thực hiện, việc phản hồi còn mang tính hình thức; chưa có chế tài xử lý khi không thực hiện kiến nghị. Vì vậy, cần bổ sung quy định trong Luật tổ chức VKSND, Bộ luật Tố tụng dân sự, như sau: Quy định về thời hạn bắt buộc trả lời kiến nghị; xác định trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kiến nghị; xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện kiến nghị; công khai kết quả thực hiện kiến nghị trên môi trường điện tử. Ngoài ra, cần bổ sung quy định cho phép VKSND yêu cầu cơ quan hữu quan báo cáo kết quả khắc phục vi phạm; theo dõi hậu kiểm việc thực hiện kiến nghị; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan không chấp hành. Điều này giúp tăng tính ràng buộc pháp lý và nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm.

- Hoàn thiện pháp luật chuyên ngành liên quan đến lợi ích công cộng:

Hoạt động kiến nghị của VKSND trong tố tụng dân sự công ích thường liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực pháp luật chuyên ngành như: Môi trường, dữ liệu cá nhân, an toàn thực phẩm, bảo vệ người tiêu dùng, quyền trẻ em, công nghệ số, y tế công cộng. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực hiện vẫn tồn tại khoảng trống pháp lý hoặc quy định chưa đồng bộ. Ví dụ: Thiếu cơ chế xác định thiệt hại môi trường mang tính cộng đồng; chưa có tiêu chuẩn pháp lý đầy đủ về bảo vệ dữ liệu trẻ em; thiếu cơ chế khởi kiện tập thể đối với vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Do đó, cần đồng bộ hóa hệ thống pháp luật chuyên ngành với cơ chế tố tụng dân sự công ích nhằm tạo điều kiện cho VKSND thực hiện quyền kiến nghị hiệu quả hơn[5].

Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên và chuyên môn hóa hoạt động tố tụng dân sự công ích.

- Đào tạo chuyên sâu về tố tụng dân sự công ích:

Khác với tố tụng dân sự truyền thống, vụ án dân sự công ích thường có tính chất phức tạp, liên ngành, kỹ thuật cao, liên quan đến chính sách công. Do đó, Kiểm sát viên không chỉ cần kiến thức pháp luật mà còn phải hiểu biết sâu về môi trường, công nghệ thông tin, dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo, y tế công cộng, tài chính tiêu dùng, điều tra xã hội học. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho Kiểm sát viên về khởi kiện dân sự công ích. Có thể tổ chức các lớp chuyên đề, thực hành mô phỏng tại Tòa án để nâng cao kỹ năng tranh luận, đồng thời xây dựng mô hình “Kiểm sát viên công ích” chuyên sâu. Theo đó, cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về tố tụng dân sự công ích. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng điều tra, xác minh thiệt hại công ích; kỹ năng phân tích chính sách công; kỹ năng xây dựng kiến nghị; kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử; kỹ năng xử lý vụ việc có yếu tố công nghệ số.

- Xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên chuyên trách về tố tụng dân sự công ích:

Một thực tế hiện nay là công tác kiểm sát dân sự nói chung còn phân tán, chưa có lực lượng chuyên trách về tố tụng dân sự công ích. Điều này ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp và chất lượng hoạt động kiến nghị. Do đó, tại VKSND các cấp cần thành lập bộ phận chuyên trách về tố tụng dân sự công ích trong hệ thống VKSND; xây dựng cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên có chuyên môn sâu; tăng cường đào tạo liên ngành; thiết lập cơ chế phối hợp với chuyên gia khoa học và tổ chức xã hội. Việc chuyên môn hóa sẽ giúp nâng cao chất lượng phát hiện vi phạm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần thành lập tổ công tác khởi kiện dân sự công ích, lựa chọn Kiểm sát viên am hiểu pháp luật dân sự, có bản lĩnh chính trị và kỹ năng tranh tụng.

Ba là, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác kiến nghị.

Trong nhiều vụ án dân sự công ích, việc phát hiện vi phạm phụ thuộc lớn vào khả năng tiếp cận thông tin và dữ liệu từ cơ quan môi trường; cơ quan y tế; cơ quan bảo vệ người tiêu dùng; cơ quan công nghệ thông tin; cơ quan quản lý dữ liệu. Tuy nhiên, cơ chế chia sẻ dữ liệu hiện nay còn phân tán và thiếu đồng bộ. Do đó, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành; cơ chế kết nối dữ liệu giữa VKSND với cơ quan quản lý chuyên ngành; quy trình cung cấp thông tin phục vụ tố tụng dân sự công ích. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các vi phạm liên quan đến dữ liệu số ngày càng gia tăng.

Đồng thời, tăng cường phối hợp với tổ chức xã hội và cộng đồng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tố tụng dân sự công ích thường có sự tham gia mạnh mẽ của tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức bảo vệ người tiêu dung, tổ chức bảo vệ môi trường, cơ quan nghiên cứu độc lập. Do đó, VKSND cần xây dựng cơ chế tiếp nhận phản ánh từ người dân; phối hợp với tổ chức xã hội trong phát hiện vi phạm; tham vấn chuyên gia độc lập; bảo vệ người tố giác vi phạm lợi ích công cộng. Sự tham gia của xã hội sẽ giúp tăng hiệu quả giám sát và nâng cao chất lượng kiến nghị.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động kiến nghị.

Hiện nay, dữ liệu về các vụ án dân sự công ích và kết quả kiến nghị còn phân tán, gây khó khăn cho công tác tổng kết thực tiễn. Do đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử thống nhất về vụ án dân sự công ích; hệ thống theo dõi kết quả thực hiện kiến nghị; kho dữ liệu về vi phạm lợi ích công cộng; nền tảng phân tích xu hướng vi phạm.

Hệ thống dữ liệu này sẽ hỗ trợ VKSND phát hiện sớm nguy cơ vi phạm; đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước; xây dựng kiến nghị có cơ sở khoa học hơn.

Bên cạnh đó, có thể thấy, trong bối cảnh chuyển đổi số, nhiều hành vi xâm hại lợi ích công cộng có thể được phát hiện thông qua phân tích dữ liệu lớn, ví dụ phát hiện hành vi lừa đảo người tiêu dùng trên nền tảng số; nhận diện nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá nhân; phân tích xu hướng ô nhiễm môi trường; phát hiện vi phạm quảng cáo độc hại đối với trẻ em. Cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu tố tụng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm vi phạm công ích; ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu điện tử. Đây là xu hướng tất yếu của nền tư pháp hiện đại. Do đó, cần gắn công tác khởi kiện dân sự công ích với chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về vụ việc dân sự công ích, ứng dụng AI để phát hiện vi phạm từ báo chí, mạng xã hội, đơn thư điện tử. Đây là bước đột phá, phù hợp với chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Lê Ngọc Duy

———————
Tài liệu tham khảo:

1. Võ Khánh Vinh (2021), Quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Phạm Hữu Nghị (2022), “Khởi kiện vì lợi ích công cộng trong pháp luật một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2022.

3. Nguyễn Văn Cương (2023), “Tố tụng công ích và yêu cầu hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14/2023.

4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo kết quả công tác 6 tháng đầu năm của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2026, Hà Nội.


[1],[2],[3],[4] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo kết quả công tác 06 tháng đầu năm của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2026, Hà Nội, tr.11.

[5] Nguyễn Văn Cương (2023), “Tố tụng công ích và yêu cầu hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14/2023.

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 14/2026