Hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Ngày đăng : 14:32, 28/08/2026
1. Yêu cầu hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Chính sách pháp luật hình sự về hình phạt là phương diện thể hiện trực tiếp cách thức Nhà nước sử dụng quyền lực hình sự để xử lý tội phạm, bảo vệ trật tự pháp luật, bảo đảm công lý và phòng ngừa tội phạm. Thông qua việc quy định hệ thống hình phạt, giới hạn áp dụng hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt và điều kiện thi hành hình phạt, Nhà nước thể hiện quan điểm chính trị - pháp lý về mức độ nghiêm khắc, tính nhân đạo và giới hạn can thiệp bằng quyền lực hình sự đối với người phạm tội.
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chính sách hình phạt có tính đặc thù sâu sắc. Đây là nhóm chủ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, nhận thức pháp luật và khả năng tự kiểm soát hành vi; đồng thời, vẫn là chủ thể của quyền trẻ em, cần được bảo vệ, giáo dục và hỗ trợ phát triển lành mạnh. Vì vậy, hình phạt đối với người dưới 18 tuổi không thể chỉ được tiếp cận như công cụ trừng trị, mà phải được đặt trong định hướng giáo dục, phục hồi, tái hòa nhập xã hội và phòng ngừa tái phạm. Chính đặc điểm này làm cho chính sách hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trở thành lĩnh vực phản ánh rõ mức độ nhân đạo, văn minh và hiệu quả của nền tư pháp hình sự.
Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đã có sự chuyển biến quan trọng theo hướng nhân đạo hóa, phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt và hạn chế tước tự do. Định hướng này được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015), các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp và các chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em[1].
Đặc biệt, Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật tư pháp NCTN năm 2024) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp và mô hình tổ chức thực hiện chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi các vấn đề đặc thù về xử lý NCTN được đặt trong một đạo luật chuyên biệt, hình phạt không còn được nhìn nhận như công cụ xử lý trung tâm trong mọi trường hợp, mà được đặt trong mối quan hệ với xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi, thủ tục thân thiện, giáo dục tại cộng đồng, thi hành án và tái hòa nhập xã hội.
Việc hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần đáp ứng các yêu cầu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi trong quá trình xử lý hình sự. Lợi ích tốt nhất không phải là xử lý nhẹ trong mọi trường hợp, mà là yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải cân nhắc toàn diện tác động của hình phạt đối với sự phát triển thể chất, tinh thần, học tập, nghề nghiệp, quan hệ gia đình, khả năng phục hồi và tái hòa nhập xã hội của người phạm tội. Sự nghiêm minh của pháp luật phải được đặt trong giới hạn phù hợp với đặc điểm phát triển của NCTN.
Thứ hai, phải tiếp tục nhân đạo hóa chính sách pháp luật hình sự về hình phạt. Nhân đạo trong lĩnh vực này không chỉ là giảm nhẹ hình phạt, mà còn là tạo điều kiện thực chất để người dưới 18 tuổi nhận thức sai lầm, khắc phục hậu quả, phục hồi nhân cách và trở lại đời sống xã hội. Một chính sách chỉ giảm mức hình phạt nhưng thiếu cơ chế giáo dục, tư vấn tâm lý, giám sát, học nghề, hỗ trợ gia đình và tái hòa nhập thì chưa thể coi là nhân đạo đầy đủ.
Thứ ba, phải bảo đảm phân hóa và cá thể hóa hình phạt. Người dưới 18 tuổi phạm tội không phải là một nhóm đồng nhất. Có sự khác biệt giữa người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; giữa người phạm tội lần đầu, bị lôi kéo với người có vai trò tích cực; giữa người có điều kiện giáo dục tại cộng đồng với người không còn môi trường giáo dục phù hợp. Do đó, chính sách hình phạt phải tạo ra cơ chế phân hóa hợp lý ở cấp độ lập pháp và cá thể hóa sâu sắc ở cấp độ áp dụng pháp luật.
Thứ tư, phải hạn chế áp dụng hình phạt tước tự do. Tước tự do đối với người dưới 18 tuổi có thể gây gián đoạn học tập, tách khỏi gia đình, suy yếu quan hệ xã hội tích cực, tạo mặc cảm, kỳ thị và làm tăng khó khăn trong tái hòa nhập. Vì vậy, hình phạt tù chỉ nên được áp dụng khi thật sự cần thiết, khi tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và yêu cầu phòng ngừa cho thấy các biện pháp khác không đủ hiệu quả.
Thứ năm, phải gắn hình phạt với giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập xã hội. Hình phạt chỉ đạt mục tiêu chính sách khi giúp người phạm tội nhận thức được hành vi sai trái, có trách nhiệm khắc phục hậu quả, được hỗ trợ thay đổi hành vi và có điều kiện trở lại đời sống gia đình, nhà trường, cộng đồng. Vì vậy, hoàn thiện chính sách hình phạt cũng đồng thời là hoàn thiện chính sách phục hồi và tái hòa nhập.
2. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn áp dụng chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Mặc dù chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể, nhất là trong giai đoạn BLHS năm 2015 và Luật tư pháp NCTN năm 2024, tuy nhiên quá trình thực hiện vẫn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Một là, vị trí của hình phạt trong quan hệ với xử lý chuyển hướng cần được xác định rõ hơn. Xử lý chuyển hướng là cơ chế có ý nghĩa đặc biệt trong tư pháp NCTN, nhằm hạn chế việc đưa người dưới 18 tuổi vào tiến trình xử lý hình sự chính thức khi có điều kiện giáo dục, phục hồi ngoài hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, xử lý chuyển hướng không thay thế hoàn toàn hình phạt. Vấn đề đặt ra là cần xác định rõ khi nào ưu tiên xử lý chuyển hướng, khi nào phải áp dụng hình phạt, và trong trường hợp áp dụng hình phạt thì hình phạt phải được lựa chọn như thế nào để vẫn bảo đảm mục tiêu phục hồi.
Hai là, tiêu chí hạn chế áp dụng hình phạt tù còn cần được cụ thể hóa. Pháp luật đã ghi nhận tinh thần hạn chế tước tự do đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nhưng việc xác định thế nào là “không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù”, “có khả năng giáo dục tại cộng đồng” hoặc “các biện pháp khác không đủ hiệu quả” vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nhận định của từng cơ quan, từng người tiến hành tố tụng. Khi thiếu tiêu chí cụ thể, Tòa án có thể có xu hướng lựa chọn hình phạt tù như giải pháp an toàn, nhất là trong các vụ án có tính chất bạo lực, phạm tội theo nhóm, liên quan đến ma túy hoặc gây áp lực dư luận tại địa phương[2].
Ba là, các hình phạt không tước tự do chưa được phát huy đầy đủ như công cụ chính sách. Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, án treo hoặc các hình thức xử lý không cách ly khỏi cộng đồng có thể có tác dụng giáo dục, phục hồi tốt trong những trường hợp phù hợp. Tuy nhiên, hiệu quả của các hình phạt này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện giám sát, giáo dục tại địa phương, vai trò của gia đình, nhà trường, chính quyền cơ sở và cơ quan thi hành án. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ thực chất, hình phạt không tước tự do dễ bị nhìn nhận là “nhẹ”, “khó quản lý”, từ đó làm giảm khả năng được áp dụng trong thực tiễn.
Bốn là, cơ chế đánh giá xã hội đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa được thiết lập đầy đủ và thống nhất. Đối với người dưới 18 tuổi, quyết định hình phạt không thể chỉ dựa vào hành vi phạm tội, hậu quả và khung hình phạt, mà phải đánh giá toàn diện về độ tuổi, mức độ phát triển tâm sinh lý, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, điều kiện học tập, nguyên nhân phạm tội, khả năng phục hồi và nguy cơ tái phạm. Nếu thiếu báo cáo đánh giá xã hội hoặc thiếu nguồn thông tin tin cậy, việc cá thể hóa hình phạt sẽ khó đạt hiệu quả.
Năm là, điều kiện tổ chức thực hiện chính sách chưa đồng bộ. Chính sách hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ là vấn đề của Tòa án. Một bản án đúng pháp luật nhưng thiếu cơ chế giám sát, giáo dục, tư vấn, học nghề, hỗ trợ gia đình và tái hòa nhập thì khó đạt mục tiêu chính sách. Vì vậy, hoàn thiện chính sách không thể chỉ dừng ở việc sửa đổi quy định về hình phạt, mà phải đồng thời hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện trong thực tiễn[3].
Sáu là, năng lực chuyên biệt của chủ thể áp dụng chính sách còn cần tiếp tục được nâng cao. Xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đòi hỏi người tiến hành tố tụng không chỉ am hiểu pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự, mà còn cần hiểu biết về tâm lý học lứa tuổi, giáo dục học, công tác xã hội, quyền trẻ em và phương pháp tư pháp phục hồi. Nếu thiếu năng lực chuyên biệt, việc cá thể hóa hình phạt dễ dừng ở mức hình thức, chưa phản ánh đầy đủ mục tiêu chính sách.
3. Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam hiện nay
Một là, hoàn thiện pháp luật về hình phạt trong mối quan hệ với xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi, theo đó cần làm rõ nguyên tắc: Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, xử lý chuyển hướng và các biện pháp giáo dục, phục hồi phải được ưu tiên xem xét trước; hình phạt chỉ được áp dụng khi xử lý chuyển hướng không phù hợp, không đủ điều kiện hoặc không bảo đảm yêu cầu phòng ngừa. Trong trường hợp phải áp dụng hình phạt, hình phạt không tước tự do cần được ưu tiên nếu có đủ điều kiện giám sát, giáo dục và bảo đảm an toàn xã hội. Hình phạt tù chỉ nên áp dụng đối với trường hợp thật sự cần thiết, có căn cứ rõ ràng và phải gắn với chương trình giáo dục, phục hồi, chuẩn bị tái hòa nhập.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các tiêu chí pháp lý để lựa chọn giữa hình phạt tù và hình phạt không tước tự do. Các tiêu chí này nên bao gồm: Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; độ tuổi và mức độ trưởng thành của người phạm tội; vai trò trong vụ án; nguyên nhân, điều kiện phạm tội; thái độ khai báo, ăn năn, khắc phục hậu quả; khả năng được gia đình, nhà trường, cộng đồng giám sát, giáo dục; nguy cơ tái phạm; lợi ích của người bị hại và yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội.
Hai là, cụ thể hóa tiêu chí hạn chế hình phạt tù và phát huy vai trò của hình phạt không tước tự do; cần hướng dẫn rõ các trường hợp Tòa án phải ưu tiên xem xét hình phạt không tước tự do. Đó là những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội lần đầu, có vai trò thứ yếu, có nơi cư trú rõ ràng, có gia đình hoặc người giám hộ có khả năng quản lý, có điều kiện tiếp tục học tập hoặc lao động, có thái độ ăn năn, đã khắc phục hoặc có khả năng khắc phục hậu quả, không có nguy cơ tái phạm cao. Trong các trường hợp này, việc áp dụng hình phạt không tước tự do có thể đạt hiệu quả giáo dục và phục hồi tốt hơn so với hình phạt tù.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Thi hành án hình sự, chính quyền cấp xã, gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội trong việc giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi chấp hành hình phạt không tước tự do.
Đối với hình phạt tù, cần xác định rõ đây là biện pháp sau cùng. Khi Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi, bản án cần thể hiện rõ lý do vì sao các hình phạt hoặc biện pháp xử lý khác không đủ hiệu quả, vì sao việc cách ly khỏi xã hội là cần thiết và hình phạt tù được áp dụng như thế nào để vẫn bảo đảm mục tiêu giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập.
Người dưới 18 tuổi chấp hành hình phạt tù cần được bảo đảm học văn hóa, học nghề, tư vấn tâm lý, duy trì quan hệ gia đình, đánh giá tiến bộ và chuẩn bị tái hòa nhập. Nếu hình phạt tù chỉ được tổ chức theo logic quản lý, cách ly mà không gắn với giáo dục, phục hồi thì sẽ không đạt mục tiêu của chính sách[4].
Ba là, thiết lập cơ chế đánh giá xã hội đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Một trong những điều kiện quan trọng để cá thể hóa hình phạt là có đầy đủ thông tin về người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó, cần thiết lập cơ chế báo cáo đánh giá xã hội trong các vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội. Báo cáo này không nhằm thay thế chứng cứ về hành vi phạm tội, mà nhằm cung cấp thông tin cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn phương thức xử lý phù hợp.
Báo cáo đánh giá xã hội cần làm rõ các nội dung cơ bản như: Hoàn cảnh gia đình; quá trình học tập, lao động; môi trường sống; quan hệ bạn bè; nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội; mức độ trưởng thành tâm lý; khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi; thái độ đối với hành vi đã thực hiện; khả năng khắc phục hậu quả; điều kiện giám sát, giáo dục tại cộng đồng; nhu cầu tư vấn, hỗ trợ, học nghề; nguy cơ tái phạm và khả năng phục hồi.
Chủ thể thực hiện báo cáo đánh giá xã hội cần được quy định phù hợp với điều kiện Việt Nam. Có thể giao cho cơ quan chuyên trách trong hệ thống tư pháp NCTN, cán bộ công tác xã hội, cơ quan Thi hành án, cơ quan bảo vệ trẻ em hoặc tổ chức được chỉ định có chuyên môn phù hợp. Về lâu dài, cần hình thành đội ngũ chuyên gia công tác xã hội, tâm lý, giáo dục và tư pháp NCTN hỗ trợ Tòa án trong quá trình quyết định hình phạt.
Báo cáo đánh giá xã hội cũng cần được sử dụng trong giai đoạn thi hành án và tái hòa nhập. Đối với người được áp dụng hình phạt không tước tự do, báo cáo là căn cứ để xây dựng kế hoạch giám sát, giáo dục tại cộng đồng. Đối với người chấp hành hình phạt tù, báo cáo là căn cứ để thiết kế chương trình giáo dục, dạy nghề, tư vấn và chuẩn bị tái hòa nhập sau khi chấp hành xong hình phạt.
Bốn là, bảo đảm áp dụng thống nhất chính sách pháp luật hình sự về hình phạt, bởi hoàn thiện pháp luật chỉ là điều kiện cần. Để chính sách hình phạt đi vào thực tiễn, cần bảo đảm áp dụng thống nhất giữa các địa phương, các cấp xét xử và các chủ thể tiến hành tố tụng. Hoạt động áp dụng pháp luật không chỉ là thao tác kỹ thuật pháp lý, mà còn chịu sự chi phối bởi nhận thức, năng lực, điều kiện tổ chức, môi trường xã hội và cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật[5].
Tòa án nhân dân tối cao cần tổng kết thực tiễn xét xử các vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội, nhất là các trường hợp áp dụng hình phạt tù, án treo, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo, phạt tiền và các biện pháp xử lý chuyển hướng. Việc tổng kết không nên chỉ dừng ở số liệu vụ án, mà cần đánh giá theo các chỉ số chính sách như tỉ lệ áp dụng hình phạt tù, tỉ lệ hình phạt không tước tự do, tỉ lệ tái phạm, điều kiện tái hòa nhập, hiệu quả giám sát tại cộng đồng và mức độ bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi.
Cần ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; xây dựng cơ sở dữ liệu về tư pháp NCTN, trong đó có phân hệ về hình phạt, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập. Cơ sở dữ liệu này giúp các cơ quan có thẩm quyền đánh giá hiệu quả chính sách trên cơ sở thực chứng, thay vì chỉ dựa vào cảm nhận hoặc kinh nghiệm cá nhân. Ngoài ra, cần nghiên cứu phát triển án lệ hoặc quyết định giám đốc thẩm có giá trị định hướng trong lĩnh vực quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Năm là, bảo đảm điều kiện tổ chức thực hiện chính sách hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý, thi hành và hỗ trợ tái hòa nhập đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Cơ chế này phải xác định rõ trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan Thi hành án hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ sở giáo dục, gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội và các thiết chế công tác xã hội.
Phát triển các dịch vụ hỗ trợ phục hồi và tái hòa nhập như tư vấn tâm lý, hỗ trợ học văn hóa, học nghề, hỗ trợ gia đình, kết nối nhà trường, hỗ trợ việc làm phù hợp.
Bên cạnh đó, cần bảo đảm kinh phí cho việc thực hiện chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp NCTN. Việc số hóa hồ sơ, xây dựng dữ liệu về người dưới 18 tuổi phạm tội, kết nối thông tin giữa Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, chính quyền địa phương, cơ sở giáo dục và cơ quan bảo vệ trẻ em sẽ góp phần nâng cao khả năng theo dõi, đánh giá, hỗ trợ và phòng ngừa tái phạm.
Sáu là, nâng cao năng lực chuyên biệt của các chủ thể áp dụng chính sách.
Chủ thể áp dụng pháp luật giữ vai trò quyết định trong việc chuyển hóa chính sách thành thực tiễn. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, năng lực chuyên biệt của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, người làm công tác thi hành án, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, cán bộ xã hội và cán bộ địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; xây dựng văn hóa tư pháp thân thiện với NCTN. Tư pháp thân thiện không chỉ là cách bố trí phòng xử án hay ngôn ngữ giao tiếp, mà còn là cách tiếp cận coi người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ thể có khả năng thay đổi, cần được xử lý công bằng, tôn trọng phẩm giá và tạo cơ hội phục hồi. Đây là nền tảng để chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đi đúng định hướng nhân đạo và tái hòa nhập[6].
Nguyễn Ngọc Quý
Tài liệu tham khảo:
1. Võ Khánh Vinh (2020), Chính sách pháp luật, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Võ Khánh Vinh (2021), Áp dụng pháp luật: lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Đào Lệ Thu (chủ biên) (2023), Triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm và thực tiễn xây dựng pháp luật trên thế giới, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Phương Hoa, Lê Huỳnh Tấn Duy (đồng chủ biên) (2022), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
5. Mai Thị Thủy (2022), Xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Hoàng Minh Đức (2016), Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội.
7. National Research Council (2013), Reforming Juvenile Justice: A Developmental Approach, The National Academies Press, Washington, D.C.; Laurence Steinberg (2007), “Risk Taking in Adolescence: New Perspectives from Brain and Behavioral Science”, Current Directions in Psychological Science, Vol. 16, No. 2, pp. 55-59.
8. Nguyễn Quang Vũ (2019), Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là người chưa thành niên trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Andrew Ashworth (2015), Sentencing and Criminal Justice, Cambridge University Press; Cavadino, M. and Dignan, J. (2006), Penal Systems: A Comparative Approach, SAGE Publications.
[1] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[2] Mai Thị Thủy (2022), Xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Báo cáo nghiên cứu của Bộ Tư pháp và UNICEF (2019), Pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với NCTN vi phạm pháp luật và tình hình NCTN vi phạm pháp luật tại Việt Nam.
[4] Nguyễn Quang Vũ (2019), Thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là NCTN trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Võ Khánh Vinh (2021), Áp dụng pháp luật lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[6] Đào Lệ Thu (chủ biên) (2023), Triết lý xử lý NCTN vi phạm và thực tiễn xây dựng pháp luật trên thế giới, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Thị Phương Hoa, Lê Huỳnh Tấn Duy (đồng chủ biên) (2022), Tư pháp hình sự đối với NCTN, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.