Hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng AI

Ngày đăng : 14:22, 12/08/2026

(Kiemsat.vn) - Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

Chương trình đặt mục tiêu phát triển đội ngũ nhân lực AI có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đáng chú ý, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm và ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao, chuyên sâu về AI.

Phổ cập năng lực sử dụng AI trong toàn xã hội

Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 xác định phát triển nhân lực AI không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà là một cấu phần quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực quốc gia, gắn với yêu cầu nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ công nghệ.

Mục tiêu của Chương trình là hình thành đội ngũ nhân lực AI có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; từng bước đưa năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị.

Cùng với phổ cập kiến thức, kỹ năng AI, Chương trình chú trọng phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, chuyên sâu, có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị các hệ thống AI an toàn, tin cậy và có trách nhiệm.

Đến năm 2030, Chương trình đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể. Trong đó, ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI phù hợp với lứa tuổi, gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức trong sử dụng AI và năng lực sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm.

100% người học trong các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI, đạo đức và an toàn dữ liệu; có khả năng sử dụng, ứng dụng AI trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn, hiệu quả.

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, Chương trình phấn đấu ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập và 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lĩnh vực giáo dục và đào tạo được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về AI.

Trong đó, tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu, có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ và lan tỏa năng lực sử dụng, ứng dụng AI an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm. Ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng AI cơ bản.

Đặc biệt, Chương trình đặt mục tiêu đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Song song với đó là mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về AI, gồm các nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống AI tiên tiến. Trong số này có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ AI trọng điểm.

Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng AI

Một trong những điểm đáng chú ý của Chương trình là xây dựng hệ thống giáo dục tích hợp AI ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo.

Đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục đại học triển khai quy định về sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá. Ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo về năng lực ứng dụng AI phù hợp với từng lĩnh vực, ngành, nghề.

Mạng lưới cơ sở đào tạo và nghiên cứu về AI cũng được định hướng phát triển theo hướng tập trung, có trọng điểm. Chương trình đặt mục tiêu hình thành ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu về AI, trong đó có từ 5 đến 7 trung tâm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế.

Đồng thời, phát triển ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học trở thành đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về AI, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về AI, các chương trình tích hợp AI theo ngành, lĩnh vực (AI+X) và chương trình ứng dụng AI (X+AI).

Định hướng đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu hình thành hệ sinh thái nhân lực AI hiện đại, bền vững, có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và hội nhập quốc tế. Năng lực sử dụng, ứng dụng AI trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động; AI trở thành công nghệ nền tảng thúc đẩy học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.

Qua đó, hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, giảng viên và nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ và dẫn dắt công nghệ AI, có năng lực cạnh tranh trong mạng lưới phát triển AI của khu vực và quốc tế.

Mục tiêu cao hơn là đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực AI thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, có hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và quản trị AI an toàn, tin cậy và có trách nhiệm.

7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Chương trình xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực AI; phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và mạng lưới hỗ trợ đào tạo AI; phát triển nhân lực AI trình độ cao, chuyên sâu và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng AI cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức; gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động; phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung phục vụ đào tạo AI; truyền thông, nâng cao nhận thức và phổ cập kỹ năng AI.

Trong đó, về thể chế, Chương trình yêu cầu xây dựng Khung năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia, quy định tiêu chuẩn đánh giá năng lực AI tham chiếu các khung năng lực và chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cùng với đó là xây dựng, ban hành hướng dẫn áp dụng chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và chương trình bồi dưỡng về AI đối với một số nhóm đối tượng trọng tâm; bổ sung chuẩn năng lực AI trong chuẩn nghề nghiệp theo từng đối tượng, ngành, nghề và vị trí việc làm; xây dựng cơ chế công nhận, đánh giá và chứng nhận năng lực AI nhằm thúc đẩy học tập suốt đời và dịch chuyển lao động.

Chương trình cũng đặt yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực AI, qua đó theo dõi, đánh giá và dự báo cung, cầu nhân lực và kỹ năng, làm cơ sở hoạch định chính sách và điều chỉnh chương trình đào tạo.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng AI cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức. Các chương trình được triển khai linh hoạt, kết hợp đào tạo trực tuyến, trực tiếp, tự học có hướng dẫn, học tập cộng đồng và bồi dưỡng tại nơi làm việc.

Đối với người lao động, nội dung đào tạo tập trung vào khả năng sử dụng công cụ AI, phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp người - máy, bảo vệ dữ liệu và thích ứng với những thay đổi của nghề nghiệp dưới tác động của AI.

Đáng chú ý, Chương trình yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp tiếp cận chương trình bồi dưỡng AI, công cụ đánh giá năng lực, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung, qua đó nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.

Đồng thời, ưu tiên hỗ trợ các nhóm yếu thế, người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học ở vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng với năng lực AI.

Chương trình cũng định hướng phát triển hệ thống học liệu mở, tài nguyên giáo dục dùng chung về AI và phối hợp tích hợp, triển khai trên nền tảng Bình dân học vụ số cùng các nền tảng học tập số hiện có.

Tự Thức