Bảo đảm quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trong tố tụng hình sự
Ngày đăng : 14:23, 12/08/2026
Cùng với người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là chủ thể trực tiếp chịu sự tác động từ các hành vi tố tụng do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện. Từ Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đầu tiên (năm 1988), đã có một hệ thống quy định tương đối đầy đủ và được hoàn thiện qua mỗi lần sửa đổi đối với nhóm chủ thể bị tác động nhiều nhất bởi hành vi của cơ quan chức năng đó là người bị buộc tội. Đến BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) bên cạnh các nguyên tắc chung, đã có các quy định trực tiếp về địa vị pháp lý, các hoạt động tố tụng cho đối tượng này. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, một số quy định còn bất cập; đặc biệt còn thiếu các quy định bảo đảm quyền của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố cũng như chưa đảm bảo tính đồng bộ với các quy định khác.
1. Bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
- Về nguyên tắc áp dụng:
Về cơ bản, các nguyên tắc áp dụng chung cho những người tham gia tố tụng, trong đó có người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã đảm bảo quyền con người, phù hợp với pháp luật quốc tế và trong nước; tuy nhiên, hiện vẫn còn một số bất cập, như sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa, quyền bảo vệ: Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định các chủ thể có liên quan là người bị buộc tội, bị hại, đương sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ nhấn mạnh đến quyền bào chữa của người bị buộc tội. Chủ thể được đảm bảo quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp quy định ở Điều 16 cũng chưa đầy đủ. Theo điểm e khoản 1 Điều 57 BLTTHS năm 2015, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cũng có quyền tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và nhóm người này không thuộc người bị buộc tội, bị hại cũng như đương sự. Vì vậy, Điều 16 BLTTHS năm 2015 chưa quy định đối với nhóm chủ thể này.
Thứ hai, về nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều 17 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ,… thì tùy tính chất… bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”. Như vậy, nếu hành vi tố tụng của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền thực hiện vi phạm pháp luật sẽ bị xem xét trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, hiện điều luật chưa quy định vi phạm trong áp dụng các biện pháp cưỡng chế, trong đó có biện pháp dẫn giải với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015 cũng quy định: “Viện kiểm sát… phát hiện… có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm…”; như vậy, có thể có những trường hợp người có thẩm quyền tố tụng vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và phải đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với họ.
- Về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố:
Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nhiều quyền tương tự như người bị buộc tội, đó là: Quyền được thông tin, quyền được bảo vệ, quyền được trình bày ý kiến, quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu… Vì họ chưa phải là người bị buộc tội nên họ không có quyền bào chữa mà chỉ có quyền bảo vệ, được quy định cụ thể ở điểm e khoản 1 Điều 57 BLTTHS năm 2015: “Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Quy định này chưa chính xác vì nếu dùng từ “hoặc” trong trường hợp này mặc nhiên sẽ được hiểu là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải chọn một trong hai hình thức là tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình mà không được thực hiện đồng thời cả hai. Trong khi đó, bất kỳ chủ thể nào có quyền bào chữa hay bảo vệ đều được quy định “tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa”, “tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ” (các điều 58, 59, 62, 63… BLTTHS năm 2015).
Liên quan đến quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tác giả cho rằng, nếu BLTTHS năm 2015 quy định chỉ người bị buộc tội mới được cơ quan có thẩm quyền chỉ định người bào chữa là chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng, chưa bảo đảm quyền một cách đầy đủ đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp họ bị tố giác hay bị kiến nghị khởi tố về tội danh mà có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, chung thân, tử hình, hay người có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc dưới 18 tuổi, nếu không được chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì bản thân họ sẽ không thể tự tin, không đủ kiến thức để tham gia các hoạt động tố tụng.
- Về thủ tục tố tụng áp dụng với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố:
Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được quyền nhờ người khác bảo vệ mình và người đó có thể là Bào chữa viên nhân dân, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý hay người đại diện hợp pháp của họ. Khác với thủ tục bào chữa với các quy định đầy đủ về địa vị pháp lý, thời điểm tham gia cho tới thủ tục để bào chữa thì quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố chỉ có một điều luật (Điều 83) về địa vị pháp lý của người này mà chưa quy định về thủ tục tham gia. Đây là bất cập của BLTTHS năm 2015 gây khó khăn cho Luật sư khi bảo vệ thân chủ là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Mặt khác, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm không có căn cứ thực hiện các thủ tục để Luật sư hay Trợ giúp viên pháp lý tham gia bảo vệ cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
Thứ hai, về thủ tục tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quy định tại Điều 148 BLTTHS năm 2015. Khoản 1 Điều 148 BLTTHS năm 2015 quy định các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoạt động (đã trưng cầu, đã yêu cầu định giá tài sản… nhưng chưa có kết quả; đã yêu cầu cơ quan… cung cấp tài liệu, đồ vật… nhưng chưa có kết quả). Tuy nhiên, trong trường hợp khi cơ quan có thẩm quyền đã triệu tập người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhưng họ không có mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì có được xem là căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ hay không? Nếu không phải là quyết định tạm đình chỉ giải quyết thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết trường hợp này như thế nào?
Thứ ba, về thủ tục lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc lấy lời khai của người tố giác, người kiến nghị khởi tố cũng như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Có quan điểm cho rằng, thủ tục lấy lời khai những người như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố sẽ được thực hiện như với những người tham gia tố tụng khác; có thể áp dụng Điều 188 BLTTHS năm 2015 để triệu tập, lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, cách hiểu này không phù hợp vì mỗi tư cách chủ thể trong các thủ tục tố tụng đều phải được quy định trong BLTTHS và khi không có quy định thì không mặc nhiên áp dụng tương tự như với các chủ thể khác vì điều này vi phạm nguyên tắc pháp chế cũng như có thể xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng.
Thứ tư, về quyền của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Theo điểm d khoản 3 Điều 83 BLTTHS năm 2015 thì người bảo vệ có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động gồm: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức…, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá về tài sản mà không đề cập đến hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói. Tương tự, việc chưa có quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có mặt trong các hoạt động như khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi của cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết với thân chủ của mình là không phù hợp; ảnh hưởng đến quyền của các chủ thể này.
- Quy định về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên:
Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật TPNCTN năm 2024) đã kế thừa các quy định của BLTTHS và tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh sự tham gia tố tụng của người chưa thành niên, bao gồm cả người bị tố giác và người bị kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, tương tự như BLTTHS năm 2015, Luật TPNCTN năm 2024 chỉ ghi nhận rõ ràng quyền có người bào chữa đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên, đồng thời bảo đảm cho họ quyền “tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” theo quy định của pháp luật.
Đối với người bị tố giác và người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên, Luật TPNCTN năm 2024 chưa có quy định trực tiếp xác lập quyền được bảo đảm có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia tố tụng.
Mặc dù có quan điểm cho rằng khoản 1 Điều 131 Luật TPNCTN năm 2024 quy định về nghĩa vụ thông báo cho “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố”, từ đó, có thể suy luận rằng pháp luật mặc nhiên thừa nhận và bảo đảm quyền này, song cách hiểu này chưa thực sự thuyết phục. Bởi lẽ, từ các quy định mang tính nguyên tắc trong phần chung đến các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tố tụng, Luật TPNCTN năm 2024 không có quy định trực tiếp ghi nhận quyền được bảo đảm có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với các chủ thể nêu trên. Do đó, không thể coi rằng quyền này đã được bảo đảm đầy đủ dưới góc độ pháp lý.
2. Hoàn thiện pháp luật về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Từ những bất cập trên, tác giả cho rằng, cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 như sau:
Một là, về nguyên tắc áp dụng:
Quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trước hết phải được hệ thống hóa các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự quy định một cách toàn diện, đồng bộ và phù hợp. Một số nguyên tắc liên quan đến nhóm chủ thể này cần được sửa đổi, hoàn thiện, cụ thể:
- Tại Điều 16 BLTTHS năm 2015:
+ Bổ sung thêm đoạn: “Bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Đoạn sau bổ sung thêm: “… người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,…, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố…”. Cụ thể:
“Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.
Người bị buộc tội, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
- Điều 17: “Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, ở đoạn 2 bổ sung thêm cụm từ “áp giải, dẫn giải” như sau:
“Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người, áp giải, dẫn giải, …thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm…”.
Hai là, về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố:
Để bảo đảm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố được thực hiện quyền bảo vệ một cách công bằng với các chủ thể khác, tại điểm e khoản 1 Điều 57 BLTTHS năm 2015, cần bỏ chữ “hoặc” và thay bằng dấu “,”; cụ thể: “Tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”.
Ba là, về thủ tục tố tụng đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố:
- Để bảo đảm cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia vào quá trình tố tụng, BLTTHS cần có các quy định về thời điểm người bảo vệ tham gia tố tụng (được tham gia từ lúc nào), thủ tục đăng ký bảo vệ (như quy định ở Điều 78 dành cho người bào chữa) và thủ tục thông báo cho người bảo vệ…; trường hợp khác có thể có một điều luật quy định chung: Các thủ tục này được áp dụng như với người bào chữa.
- Cần bổ sung thêm điều luật quy định về chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Cụ thể:
Điều…
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bảo vệ thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bảo vệ cho họ:
a) Họ bị tố giác, kiến nghị khởi tố về tội mà Bộ luật Hình sự quy đ?nh m?c cao nh?t c?a khung h?nh ph?t l? 20 n?m t?, t? chung th?n, t? h?nh;
b) Ng??i b? t? gi?c, ng??i b? ki?n ngh? kh?i t?ịnh mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bảo vệ; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bảo vệ cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bảo vệ;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bảo vệ cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là thành viên của tổ chức mình.
- Điều 148 về tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ. Cụ thể:
“…c. Đã triệu tập người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhưng không biết ở đâu hoặc vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc lý do khách quan”.
Bốn là, về thủ tục đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên:
- Bổ sung một điều luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên theo đó:
1. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên có quyền tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2. Người đại diện của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên có quyền lựa chọn người bảo vệ hoặc tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên bị tố giác, kiến nghị khởi tố.
3. Trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người chưa thành niên không có người bảo vệ hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bảo vệ thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định tại Điều 76 Bộ luật này.
Phạm Thanh Tú
--------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Võ Thị Kim Oanh, Hoàn thiện các quy định về người bị tình nghi trong BLTTHS năm 2003, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 04/2011.
2. Lê Thiện, Quy định về người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, Tạp chí Tòa án nhân dân, 02/2018.
3. Nguyễn Khắc Hải, Quyền con người trong tư pháp hình sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 06/2021.
4. Phạm Thanh Huyền, Bàn về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền im lặng trong tố tụng hình sự, Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập ngày 10/4/2025.
5. Đặng Đình Thái, Bàn về quyền con người trong tố tụng hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân, tháng 11/2023.