Nhận diện tội phạm có tổ chức trên không gian mạng

Ngày đăng : 13:53, 07/08/2026

(Kiemsat.vn) - Tội phạm có tổ chức trên không gian mạng là một thách thức đối với an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc nhận diện đúng bản chất, cơ cấu tổ chức, phương thức, thủ đoạn và xu hướng phát triển của loại tội phạm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác đấu tranh, phòng ngừa, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh.

1. Nhận diện tội phạm có tổ chức trên không gian mạng

Tội phạm có tổ chức (TPCTC) là một hiện tượng xã hội tiêu cực nguy hiểm, có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Theo Liên hợp quốc, TPCTC là “một nhóm có cấu trúc gồm ba người trở lên, tồn tại trong một khoảng thời gian và hành động cùng nhau nhằm mục đích thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc phạm tội vì lợi ích tài chính hay vật chất”[1]. Ở Việt Nam, TPCTC thường được hiểu với nội hàm là hình thức hoạt động phạm tội do băng nhóm, đường dây tội phạm gây ra[2].

Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Như vậy, có thể hiểu, TPCTC trên không gian mạng là hành vi vi phạm pháp luật do một nhóm người thực hiện, có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò rõ ràng, sử dụng phương tiện điện tử và công nghệ số để tiến hành các hoạt động phạm tội với mục tiêu chủ yếu là trục lợi tài chính hoặc phá hoại an ninh mạng, trật tự xã hội.

Nhìn một cách tổng thể về tình hình TPCTC trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay, có thể nhận diện và làm rõ dạng tội phạm đặc biệt nguy hiểm này thông qua một số khía cạnh như sau:

Một là, qua các đặc trưng cơ bản của loại hình tội phạm này trong môi trường mạng. Tương tự như TPCTC truyền thống, TPCTC trên không gian mạng là loại tội phạm hình thành bởi sự câu kết chặt chẽ của từ hai cá nhân trở lên, có tổ chức, có phân công vai trò, chức năng, thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính, song phương thức và công cụ mà chúng sử dụng lại mang tính hiện đại, ẩn danh và xuyên biên giới. Tội phạm có tổ chức hoạt động trên không gian mạng thường có mục đích chủ yếu là chiếm đoạt tài sản hoặc lợi ích kinh tế thông qua các hoạt động phạm pháp như lừa đảo trực tuyến, phát tán mã độc, tấn công mạng, thao túng thị trường tiền ảo, rửa tiền qua blockchain… Đặc biệt, tội phạm này có xu hướng tạo ra vỏ bọc hợp pháp dưới hình thức doanh nghiệp công nghệ, quỹ từ thiện hoặc tổ chức đầu tư để che giấu hoạt động phạm tội. Ngoài ra, TPCTC trên không gian mạng thường có khả năng thâm nhập vào hệ thống hành chính công hoặc móc nối với các cá nhân biến chất trong bộ máy nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm mua chuộc, bao che, hoặc tiếp cận thông tin mật phục vụ cho hoạt động tội phạm.

Hai là, qua hình thức tổ chức của TPCTC trên không gian mạng. Tùy thuộc vào quy mô, mục tiêu và mức độ liên kết giữa các đối tượng, TPCTC trên không gian mạng có thể được chia thành hai dạng chính: Dạng đơn giản và dạng tổ chức cao. Dạng đơn giản là các nhóm nhỏ từ 02 đến 10 người, có liên kết lỏng lẻo, thường được hình thành từ những đối tượng riêng lẻ thông qua mạng xã hội, các diễn đàn ngầm, hoặc qua các ứng dụng nhắn tin mã hóa như Telegram, Signal. Ban đầu, chúng thực hiện các hành vi lừa đảo nhỏ lẻ như giả danh cơ quan Công an, ngân hàng để chiếm đoạt tiền; sau đó, khi đã móc nối được với những đối tượng khác có cùng mục đích, nhóm tội phạm này dần phát triển thành tổ chức với sự chỉ huy của một vài cá nhân cầm đầu, dù vẫn chưa có sự phân chia vai trò chặt chẽ. Chẳng hạn, thời gian qua nổi lên các nhóm lừa đảo qua app đầu tư tài chính ảo, trong đó, các đối tượng thường xuyên thay đổi tên miền, giao diện app, liên tục mở các khóa học “làm giàu”, “đầu tư thông minh” để thu hút người tham gia, sau đó chiếm đoạt tiền và biến mất.

Ngược lại, dạng tổ chức cao có cấu trúc chặt chẽ, hoạt động bài bản và thường xuyên thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội. Các tổ chức này có ba cấp rõ ràng. Đối tượng cầm đầu là người chỉ đạo hoạt động từ xa; cấp trung gian với vai trò điều phối mạng lưới trong và ngoài nước; và cấp thực hiện là những người trực tiếp tiến hành hành vi phạm pháp. Những tổ chức này thường xây dựng các nền tảng giao dịch ảo, sàn forex giả[3], website đầu tư đa cấp, cho vay ngang hàng (P2P lending)[4] không phép nhằm thu hút số lượng lớn nạn nhân. Ví dụ, sàn giao dịch FX Trading Markets - một mô hình đa cấp trá hình, hoạt động mạnh mẽ trên không gian mạng từ năm 2020, lôi kéo hàng nghìn người tham gia, gây thiệt hại hàng trăm tỉ đồng.

Ba là, qua phương thức, thủ đoạn hoạt động trên không gian mạng. Một số thủ đoạn khá phổ biến hiện nay của TPCTC như sau:

(1) Các băng nhóm tổ chức đánh bạc thành lập các website đánh bạc, cá cược, cá độ, game bài trực tuyến có thưởng, đặt máy chủ tại nước ngoài, không đăng ký/giả mạo thông tin, che giấu địa chỉ IP, cung cấp các tên miền cho các đối tượng trong nước để tổ chức đánh bạc, sử dụng các thủ đoạn rửa tiền như (đại lý mua bán tiền game trò chơi, nạp thẻ cào viễn thông, mua bán tiền ảo, dịch vụ chuyển tiền nhanh, cầm đồ, cho vay…).

(2) Các băng nhóm lừa đảo sử dụng công nghệ cao, rửa tiền có sự dịch chuyển địa bàn sang các nước lân cận để hoạt động phạm tội (Lào, Campuchia, Philipines, Myanma), phần lớn do người Trung Quốc, Đài Loan, người gốc Hoa cầm đầu. Cá biệt, một số đối tượng người Việt Nam tham gia các băng nhóm lừa đảo, phát tán tin nhắn quảng cáo (simbox). Các băng nhóm “rửa tiền” cung cấp dịch vụ thông qua các thao tác đã được cài đặt tự động để chuyển tiền qua hàng trăm tài khoản ngân hàng không chính chủ, thực hiện các giao dịch mua bán tiền ảo, cổ phiếu, hóa đơn, thanh toán qua các trung gian thanh toán, sàn thương mại điện tử, mua bán, đổi tiền ngoại tệ, sản phẩm không có hóa đơn, chứng từ để chuyển thành tiền sạch, cắt đứt việc truy xét theo dòng tiền của cơ quan chức năng.

(3) Các băng nhóm tín dụng đen lợi dụng các ứng dụng, website, mạng xã hội, sim rác hoạt động phức tạp, với thủ đoạn thu thêm các khoản phí để lách quy định về lãi suất; một số đối tượng thành lập các doanh nghiệp, công ty luật thuê hàng trăm nhân viên mua lại các khoản nợ xấu để gọi điện, đe dọa cưỡng đoạt tài sản. Gần đây, xuất hiện các đối tượng người nước ngoài (Trung Quốc, Nga, Latvia) đến Việt Nam để điều hành hoạt động cho vay lãi nặng, thành lập doanh nghiệp núp bóng và hợp thức hóa nguồn tiền của tội phạm thông qua các hợp đồng vay vốn với các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia hoạt động tại các quốc gia khác như Indonesia, Singapore, Trung Quốc...

(4) Các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí, công cụ hỗ trợ, linh kiện vũ khí diễn biến phức tạp, các đối tượng nhập riêng lẻ các bộ phận, linh kiện vũ khí, đạn thể thao, đạn quân dụng qua kênh thương mại điện tử từ nước ngoài (Trung Quốc) hoặc thu gom trên mạng xã hội của các đối tượng nhập lậu qua biên giới (Lào, Campuchia), các bộ phận, linh kiện vũ khí để chế tạo, nâng cấp thành súng bắn đạn thể thao, bán lại kiếm lời với giá cao hơn.

(5) Các băng nhóm tội phạm sử dụng thiết bị (simbox, BTS giả, GoIP…) để xâm nhập, phát tán tin nhắn, giả mạo đầu số viễn thông, quảng cáo trực tuyến cho các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, đăng tải các video hướng dẫn phạm tội, cổ súy bạo lực, côn đồ, đưa thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng gây bức xúc dư luận, thiệt hại về kinh tế; quảng cáo vi phạm pháp luật liên quan đến cá độ bóng đá, lô đề… trên các website của cơ quan nhà nước… Một số đối tượng thực hiện các cuộc tấn công mạng, gián điệp mạng chủ yếu nhắm vào hệ thống mạng thông tin của cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn, trọng yếu, hệ thống ngân hàng nhằm thu thập, đánh cắp thông tin nội bộ, bí mật nhà nước, tấn công từ chối dịch vụ, phá hủy dữ liệu, đánh sập hệ thống; chiếm quyền điều khiển, thay đổi giao diện, tuyên truyền thông tin xấu, độc trên trang thông tin điện tử, lây nhiễm virus, mã độc, mã hóa dữ liệu; đánh cắp, rao bán thông tin, tài liệu.

(6) Các băng nhóm mua bán người, mua bán bộ phận cơ thể người với thủ đoạn chủ yếu là sử dụng mạng xã hội để làm quen, kết bạn và dụ dỗ, lừa gạt phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số với hình thức môi giới hôn nhân, việc làm, mang thai hộ, mua bán thận… để đưa sang nước ngoài mua bán, trao đổi.

(7) Các băng nhóm sử dụng các kỹ thuật công nghệ cao như phát tán mã độc, tấn công từ chối dịch vụ (DDoS), tạo website giả mạo cơ quan nhà nước, ngân hàng hoặc ví điện tử để đánh cắp thông tin đăng nhập và OTP từ người dùng. Một thủ đoạn phổ biến là gửi đường link giả qua tin nhắn, email hoặc mạng xã hội yêu cầu người dùng cung cấp thông tin cá nhân hoặc tải ứng dụng, từ đó cài cắm phần mềm gián điệp nhằm điều khiển thiết bị từ xa. Nhiều tổ chức tội phạm còn đứng sau các hoạt động phát hành token ảo, tiền mã hóa không có giá trị, sau đó tạo hiệu ứng truyền thông giả để thu hút đầu tư rồi đánh sập sàn, chiếm đoạt tài sản. Để che giấu dấu vết, các tổ chức này sử dụng dịch vụ chuyển tiền ngang hàng (peer-to-peer)[5], sàn tiền ảo không đăng ký hoạt động tại Việt Nam, hoặc chuyển tiền qua trung gian tại nhiều quốc gia khác nhau. Ngoài ra, việc sử dụng mạng riêng ảo (VPN), giao thức mã hóa end-to-end, và máy chủ đặt ở nước ngoài khiến việc truy vết, thu thập bằng chứng trở nên vô cùng khó khăn.

Bốn là, nhận diện TPCTC qua xu hướng vận động và phát triển hiện nay. Tội phạm có tổ chức trên không gian mạng ở Việt Nam đang có xu hướng quốc tế hóa, cấu trúc tổ chức ngày càng đa dạng, liên kết với các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia để tạo ra mạng lưới phạm tội toàn cầu. Một số tổ chức tội phạm mạng nước ngoài đã lợi dụng chính sách đầu tư mở cửa, xâm nhập vào Việt Nam dưới vỏ bọc doanh nghiệp công nghệ hoặc nhà đầu tư để thực hiện hoạt động điều hành, tuyển dụng và đào tạo đối tượng trong nước. Đáng chú ý, nhiều đường dây tội phạm mạng hiện nay có sự tham gia của các thành viên trong cùng một gia đình, họ hàng - một hiện tượng mới so với trước đây, khi các nhóm TPCTC thường là tập hợp các cá nhân ngoài xã hội không có quan hệ huyết thống. Các hình thức TPCTC “gia đình hóa” thường xảy ra trong hoạt động rửa tiền, buôn lậu, tổ chức đánh bạc, hoặc vận hành các đường dây tín dụng đen qua ứng dụng cho vay online.

2. Khó khăn, thách thức trong công tác phòng, chống tội phạm có tổ chức trên không gian mạng

Thời gian qua, công tác phòng, chống TPCTC trên không gian mạng đã có những chuyển biến tích cực, song vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đặt ra đối với các cơ quan chức năng và toàn xã hội. Những thách thức này không chỉ mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ mà còn xuất phát từ yếu tố pháp lý, tổ chức bộ máy, nhận thức xã hội và hợp tác quốc tế.

Một là, việc nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền các cấp với lực lượng Công an trong phòng, chống TPCTC trên không gian mạng hiện còn nhiều hạn chế. Không ít địa phương vẫn có tâm lý coi nhẹ nguy cơ của tội phạm mạng, đánh giá đây là vấn đề kỹ thuật, giao khoán cho một số đơn vị chuyên môn mà chưa nhìn nhận toàn diện về mối đe dọa với an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Việc triển khai các kế hoạch, đề án ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng, khiến cho công tác phát hiện và xử lý TPCTC trên không gian mạng còn bị động. Thêm vào đó, nguồn lực về tài chính, nhân sự, trang thiết bị kỹ thuật hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong tổ chức và thực thi nhiệm vụ này.

Hai là, công tác phòng ngừa xã hội đối với loại tội phạm này còn chưa theo kịp với thực tiễn. Trong khi các đối tượng phạm tội không ngừng tận dụng sự thiếu hiểu biết, mất cảnh giác của người dân để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, thì công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức vẫn còn dàn trải và chưa đi vào chiều sâu. Đặc biệt, các nhóm người sử dụng mạng xã hội nhiều như học sinh, sinh viên, người cao tuổi thường thiếu kỹ năng nhận diện rủi ro và bảo mật thông tin cá nhân. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức ứng dụng công nghệ nhưng chưa được trang bị kiến thức đầy đủ về an toàn thông tin, dễ bị xâm nhập hoặc lợi dụng làm phương tiện phạm tội. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng chưa thực sự mạnh mẽ, lực lượng Công an cơ sở còn khó khăn trong tiếp cận thông tin và phát hiện sớm dấu hiệu hình thành các tổ chức tội phạm.

Ba là, công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng còn bất cập khi tốc độ phát triển của các hoạt động kinh doanh số, giao dịch tài chính trực tuyến, sàn thương mại điện tử... vượt xa năng lực kiểm soát hiện có. Nhiều lĩnh vực như tiền mã hóa, dịch vụ xuyên biên giới, định danh điện tử vẫn còn thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, tạo lỗ hổng để TPCTC lợi dụng. Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác tự nguyện của doanh nghiệp, trong khi các nền tảng ở nước ngoài lại không chịu sự quản lý trực tiếp từ Việt Nam. Công tác giám sát các tổ chức cung cấp dịch vụ công nghệ có nguy cơ bị lợi dụng vẫn còn lỏng lẻo.

Bốn là, khó khăn do thiếu hụt đội ngũ chuyên trách có chuyên môn sâu. Nhiều Cán bộ điều tra chưa được đào tạo bài bản về công nghệ số, khó tiếp cận với hệ thống mã hóa, dữ liệu lớn, AI - những công cụ đang được tội phạm sử dụng ngày càng phổ biến. Việc tiếp nhận tố giác tội phạm qua mạng chưa linh hoạt, còn thiếu hệ thống báo cáo số hóa hiệu quả. Hoạt động phối hợp giữa trinh sát và điều tra hình sự đôi khi thiếu đồng bộ, dẫn tới chậm trễ trong xử lý các tổ chức TPCTC. Ngoài ra, việc truy bắt các đối tượng bỏ trốn ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn do hạn chế trong hợp tác tư pháp quốc tế, nhất là với các nước chưa ký hiệp định dẫn độ với Việt Nam.

Năm là, những vấn đề mang tính chiến lược trong hoàn thiện pháp luật và tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống TPCTC trên không gian mạng hiện nay vẫn còn tồn tại. Việt Nam chưa có luật riêng điều chỉnh toàn diện loại hình tội phạm này, trong khi các văn bản hiện hành còn phân tán, thiếu thống nhất và chưa bắt kịp sự phát triển nhanh của công nghệ và tội phạm mạng. Cơ chế bảo vệ người tố giác, nhân chứng trong các vụ án liên quan đến không gian mạng vẫn còn yếu, khiến người dân ngại hợp tác với cơ quan chức năng. Hợp tác quốc tế trong điều tra, truy bắt tội phạm mạng vẫn bị giới hạn bởi rào cản pháp lý, quy trình thủ tục phức tạp và sự khác biệt trong hệ thống luật pháp giữa các quốc gia. Việc nội luật hóa các điều ước quốc tế như Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các nghị định thư kèm theo vẫn chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi và đấu tranh với TPCTC xuyên biên giới.

3. Một số giải pháp, kiến nghị

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống TPCTC trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một số nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an trong công tác phòng, chống TPCTC trên không gian mạng. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các cấp ủy, chính quyền cần nhận thức rõ mức độ nguy hiểm, tính chất phức tạp của TPCTC trên không gian mạng để có chủ trương, giải pháp lãnh đạo sát với thực tiễn, nhất là trong việc xây dựng chính sách an ninh mạng, an ninh số; cần kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 138 các cấp và Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm[6]. Các địa bàn có hạ tầng công nghệ thông tin phát triển, nơi tập trung đông người sử dụng mạng xã hội, ví điện tử, sàn giao dịch tài chính cần được xác định là trọng điểm để ưu tiên lực lượng và nguồn lực.

Thứ hai, tăng cường công tác phòng ngừa xã hội, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong phòng ngừa TPCTC trên không gian mạng; phát động sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong môi trường mạng, đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng chống tội phạm mạng vào trong chương trình giáo dục học đường, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức. Cần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cộng đồng về các nguy cơ từ tội phạm mạng như lừa đảo qua ứng dụng, chiếm đoạt tài sản qua mã độc, tổ chức đánh bạc online, rửa tiền qua tiền mã hóa, từ đó hình thành ý thức cảnh giác và chủ động phòng ngừa; đặc biệt, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an cơ sở trong công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp phát hiện kịp thời các hoạt động nghi vấn, góp phần xây dựng thế trận an ninh mạng toàn dân vững chắc.

Thứ ba, tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ công nghệ, tài chính số, sàn thương mại điện tử, ví điện tử, tiền mã hóa và các dịch vụ cung cấp nền tảng mạng xã hội. Cần siết chặt quy định cấp phép, kiểm tra hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp có cung cấp dịch vụ kỹ thuật số, bảo đảm rằng không có kẽ hở để các đối tượng phạm tội lợi dụng thành lập doanh nghiệp trá hình hoặc sử dụng công nghệ để phạm pháp. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thông tin cá nhân trên môi trường mạng, không để thông tin người dân bị rò rỉ, trở thành nguồn dữ liệu cho các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Xây dựng, ban hành các quy trình, quy chế vận hành, sử dụng các hệ thống thông tin trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhằm chủ động phòng ngừa, hạn chế rủi ro về tấn công mạng, đặc biệt quan tâm đến phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng do TPCTC trên không gian mạng gây ra.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác điều tra, xử lý TPCTC trên không gian mạng thông qua việc xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh cả về chuyên môn kỹ thuật số lẫn nghiệp vụ điều tra truyền thống. Cần tuyển chọn, đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ Cán bộ điều tra có kiến thức về an ninh mạng, công nghệ thông tin, pháp luật quốc tế và các công cụ truy vết số. Nâng cao khả năng tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm qua môi trường mạng bằng việc phát triển các nền tảng tiếp nhận thông tin hiện đại, thiết lập hệ thống báo cáo số hóa, đường dây nóng, hòm thư điện tử tố giác tội phạm mạng. Song song đó, cần đẩy mạnh công tác trinh sát kết hợp với tố tụng hình sự để kịp thời phát hiện, thu thập chứng cứ và xử lý hiệu quả. Đặc biệt, cần tăng cường truy nã và phối hợp quốc tế trong việc truy bắt các đối tượng TPCTC bỏ trốn ra nước ngoài. Đồng thời, Bộ Công an cần sớm hoàn thiện và liên thông hệ thống cơ sở dữ liệu về TPCTC.

Thứ năm, đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để nhận diện và đấu tranh hiệu quả với TPCTC trên không gian mạng và TPCTC xuyên quốc gia theo một số hướng sau đây:

Đối với Bộ luật Hình sự: (1) Cần nghiên cứu luật hóa khái niệm “tội phạm có tổ chức” và “tổ chức tội phạm” theo chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước Palermo, thay vì chỉ sử dụng khái niệm “phạm tội có tổ chức” như một tình tiết định khung; (2) Bổ sung một tội danh độc lập về “tham gia tổ chức tội phạm” và “tổ chức, chỉ huy tổ chức tội phạm”, kể cả trong trường hợp chưa xác định được tội phạm cụ thể đã hoàn thành. Điều này cho phép xử lý hình sự đối với các đối tượng có vai trò như “bộ não”, “nhà tổ chức”, “người tài trợ”, “người vận hành hạ tầng số” của các tổ chức TPCTC trên không gian mạng; (3) Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng riêng cho TPCTC sử dụng không gian mạng, như: Sử dụng hạ tầng số xuyên quốc gia, ẩn danh điện tử, tiền mã hóa, nền tảng trung gian, dữ liệu cá nhân bị đánh cắp, hoặc gây hậu quả trên diện rộng...; (4) Mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong các trường hợp doanh nghiệp, nền tảng công nghệ hoặc tổ chức tài chính được sử dụng làm công cụ hoặc “vỏ bọc” cho TPCTC trên không gian mạng.

Đối với Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS): (1) Nghiên cứu bổ sung và luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trên không gian mạng, bao gồm xâm nhập hệ thống, thu thập dữ liệu từ xa, giám sát giao dịch số, theo dõi ví điện tử và tiền mã hóa, với cơ chế kiểm soát chặt chẽ theo các quy định của pháp luật; (2) Bổ sung trong BLTTHS các quy định cho phép thu thập, sử dụng và công nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử có nguồn gốc ngoài lãnh thổ Việt Nam, bao gồm dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cung cấp trong khuôn khổ tương trợ tư pháp hình sự, dữ liệu do các doanh nghiệp và nền tảng công nghệ xuyên quốc gia lưu giữ, cũng như dữ liệu được trao đổi thông qua các cơ chế hợp tác khẩn cấp giữa các cơ quan thực thi pháp luật; (3) Mở rộng thẩm quyền điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam đối với các vụ án TPCTC trên không gian mạng có yếu tố nước ngoài theo hướng thừa nhận căn cứ xác lập thẩm quyền không chỉ dựa trên lãnh thổ nơi hành vi được thực hiện, mà còn dựa trên nơi phát sinh hậu quả, nơi cư trú của nạn nhân hoặc nơi hệ thống thông tin, dữ liệu và hạ tầng số bị xâm nhập, chiếm quyền kiểm soát hoặc bị sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; (4) Bổ sung vào BLTTHS cơ chế tố tụng đặc thù đối với việc điều tra tổ chức tội phạm, theo đó cho phép tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ và áp dụng biện pháp tố tụng đối với bản thân cấu trúc tổ chức tội phạm, dòng tiền và hạ tầng công nghệ mà tổ chức đó sử dụng, độc lập với việc điều tra từng hành vi phạm tội cụ thể, kể cả trong trường hợp các hành vi này đang được xử lý trong nhiều vụ án khác nhau.

Đối với các luật khác có liên quan: Đối với các luật chuyên ngành có liên quan, cần sớm nghiên cứu và ban hành Luật phòng, chống TPCTC nhằm thiết lập một cơ sở pháp lý thống nhất cho việc nhận diện tổ chức tội phạm, kiểm soát, phong tỏa và thu hồi tài sản, cũng như bảo vệ người hợp tác với cơ quan thực thi pháp luật trong quá trình điều tra và xử lý loại tội phạm này. Đồng thời, Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật an ninh mạng sửa đổi cần được hoàn thiện theo hướng trở thành các công cụ pháp lý chủ đạo để quản lý không gian dữ liệu, hạ tầng số và các nền tảng trung gian, qua đó hạn chế và ngăn chặn việc các tổ chức tội phạm lợi dụng môi trường số làm không gian hoạt động và che giấu hành vi phạm tội...

Ngô Văn Vinh - Nguyễn Thanh Hương

---------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công an (2023, 2024), Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

2. Bộ Công an (2024), Báo cáo Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện công tác phòng, chống tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia.

3. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, United Nations Office on Drugs and Crime (2000), Convention against Transnational Organized Crime.

4. Nguyễn Minh Đức (2022), Phòng, chống tội phạm mạng - thực trạng và giải pháp, Tạp chí Công an nhân dân.

5. Chỉ thị số 01/CT-BCA ngày 13/3/2024 của Bộ Công an về tăng cường công tác phòng chống tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia trong tình hình mới.

6. Quyết định số 623/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14/4/2016 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030.


[1] Xem: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 (Công ước Palermo).

[2] Định nghĩa theo giải thích thuật ngữ “Tội phạm có tổ chức” trong Kế hoạch số 131/KH-BCA-CSHS ngày 30/3/2021 về phòng, chống tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia giai đoạn 2021-2025.

[3] Sàn Forex giả là nền tảng giao dịch ngoại hối được lập ra trái phép với mục đích lừa đảo nhà đầu tư. Các sàn này thường mô phỏng giao diện như sàn thật, tạo giao dịch ảo, thao túng kết quả và rút tiền khó khăn hoặc không thể rút. Đây là một hình thức tội phạm công nghệ cao nhằm chiếm đoạt tài sản người tham gia.

[4] Cho vay ngang hàng (P2P lending) là hình thức kết nối trực tiếp giữa người có tiền nhàn rỗi và người cần vay vốn thông qua nền tảng công nghệ mà không cần trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng. Giao dịch được thực hiện trên các website hoặc ứng dụng, sử dụng công nghệ để đánh giá tín dụng và quản lý hợp đồng vay. Mô hình này giúp tối ưu hóa chi phí, tăng khả năng tiếp cận vốn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về pháp lý và an toàn tài chính.

[5]  Dịch vụ chuyển tiền ngang hàng (peer-to-peer- P2P) là hình thức chuyển tiền trực tiếp giữa hai cá nhân mà không thông qua tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng. Giao dịch được thực hiện qua nền tảng công nghệ như ví điện tử, ứng dụng di động hoặc blockchain. Mô hình này giúp chuyển tiền nhanh, tiết kiệm chi phí nhưng cũng dễ bị lợi dụng cho hoạt động rửa tiền và phạm pháp.

[6] Xem thêm: Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030, đề án phòng, chống tội phạm có tổ chức là một trong số 15 đề án của chiến lược này.  

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 05/2026