Bàn về chế định miễn truy tố trong tố tụng hình sự

Ngày đăng : 17:05, 31/07/2026

(Kiemsat.vn) - Việc nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc chế định miễn truy tố là cần thiết đối với pháp luật Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư pháp, giải quyết các vụ án hình sự, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và xu thế hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chế định này cần được thực hiện từng bước, có kiểm soát và xây dựng một nền tảng pháp lý vững chắc để tránh lạm quyền và đảm bảo tính công bằng.

Khái niệm miễn truy tố có mối quan hệ không thể tách rời với khái niệm truy tố. Truy tố là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trước Tòa án, do đó, miễn truy tố là việc không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trước Tòa án. Miễn truy tố có một số đặc điểm sau[1]: (1) Là thủ tục tố tụng được đặt ra đối với bị can; (2) Được đặt ra với đối tượng mà hành vi phạm tội của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự, mặc dù có đủ điều kiện để truy tố họ trước Tòa án nhưng vì có các căn cứ xét thấy việc truy tố này không cần thiết nên họ được hưởng chế định miễn truy tố; (3) Miễn truy tố làm đương nhiên chấm dứt quá trình tố tụng đối với bị can trong vụ án hình sự. Bị can không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án nữa, do đó họ không bị xét xử, không phải chịu hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác... mà đáng ra họ phải chịu trên thực tế; (4) Miễn truy tố thuộc thẩm quyền áp dụng của Viện kiểm sát/Viện công tố. Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc truy tố, có thẩm quyền quyết định có cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự một người trước Tòa án hay không. Nếu việc truy tố là cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố, còn nếu có đủ căn cứ để miễn truy tố người đó thì Viện kiểm sát ra quyết định miễn truy tố.

Miễn truy tố cũng có mối quan hệ biện chứng với nguyên tắc bắt buộc truy tố (mandatory prosecution) và tùy nghi truy tố (discretion prosecution) trong tố tụng hình sự. Nguyên tắc bắt buộc truy tố đòi hỏi cơ quan Công tố khi có đủ chứng cứ phải tiến hành truy tố mọi trường hợp phạm tội mà không được lựa chọn trường hợp nào sẽ truy tố hoặc không truy tố ra trước Tòa án để xét xử. Nói cách khác, theo nguyên tắc này “Cảnh sát và Công tố viên phải theo đuổi mọi vụ án hình sự trên thực tế, để bảo đảm sự trừng phạt hình sự”[2]. Ngược lại, nguyên tắc tùy nghi truy tố được hiểu rằng “trong một số trường hợp, dù đã có đủ chứng cứ hợp pháp để buộc tội bị can nhưng Cơ quan công tố vẫn có quyền cân nhắc, xem xét quyết định có truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hay không”[3]. Nguyên tắc tùy nghi truy tố còn được biết đến với tên gọi khác như nguyên tắc truy tố có điều kiện. Như vậy, miễn truy tố là chế định gắn liền với nguyên tắc tùy nghi truy tố và chế định này cho phép các Cơ quan công tố đưa ra quyết định không truy tố ngay cả khi có đủ căn cứ buộc tội, nếu tội phạm và người phạm tội thỏa mãn một số điều kiện nhất định.

1. Một số vấn đề về miễn truy tố

Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay vẫn tuân thủ nguyên tắc bắt buộc truy tố, thể hiện thông qua một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) như: Nhiệm vụ “phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội…” (Điều 2); trách nhiệm “khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội…” (Điều 18); nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật… Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” (Điều 9)... Nguyên tắc bắt buộc truy tố trong tố tụng hình sự Việt Nam thể hiện sự kiên quyết, triệt để trong xử lý mọi hành vi phạm tội, đồng thời cũng bảo đảm sự bình đẳng trong công cuộc đi tìm sự thật khách quan của vụ án[4].

Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tố và miễn truy tố có thể mang lại một số điểm tích cực như giảm tải số lượng vụ án; tiết kiệm chi phí tố tụng cho nhà nước… Do đó, cần được nghiên cứu thấu đáo về khả năng quy định và áp dụng miễn truy tố trong tố tụng hình sự Việt Nam; theo tác giả có thể dựa trên những cơ sở sau:

Thứ nhất, lý luận về bảo vệ lợi ích công cộng và giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong xử lý các vụ án hình sự: Mô hình tố tụng hình sự trên thế giới về cơ bản chịu ảnh hưởng bởi các triết lý liên quan đến sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm. Theo lý thuyết của Herbert L. Packer thì tố tụng hình sự được phân loại thành mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm (crime - control model) và mô hình tố tụng công bằng (due - process model)[5]. Mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm đề cao mục tiêu kiểm soát tội phạm, đấu tranh phòng chống tội phạm. Kiểm soát, trấn áp tội phạm là sứ mệnh, nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự[6]. Với mô hình tố tụng công bằng, chức năng quan trọng nhất của tư pháp hình sự là đem lại một quá trình tố tụng công bằng, thoả đáng[7]. Tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều biểu hiện phù hợp với mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhanh chóng phát hiện và xử lý tội phạm. Trong đó, mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm quan niệm bảo vệ quyền và lợi ích của con người là mục tiêu tối thượng của tố tụng hình sự, hệ thống tư pháp hình sự phải bảo đảm an toàn xã hội, giữ gìn trật tự xã hội, hạn chế tối đa sự xâm hại của tội phạm tới an ninh và quyền tự do cá nhân của mọi người dân trong xã hội[8]. Hoạt động truy tố trong tố tụng hình sự cũng không nằm ngoài mục đích bảo vệ những lợi ích này. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết một số vụ án hình sự có thể còn phát sinh những lợi ích khác mà nếu cân nhắc thì có thể sẽ quan trọng hơn so với việc phải truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước Tòa án[9]. Để giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích này, việc ghi nhận và áp dụng miễn truy tố được coi là một giải pháp phù hợp.

Thứ hai, giải quyết vụ án hình sự là trách nhiệm chung của hệ thống tư pháp hình sự để truy cứu người phạm tội, để không bỏ lọt tội phạm. Trong khi đó, theo quan niệm của một số quốc gia trên thế giới thì giải quyết vụ án hình sự là giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và cá nhân bị buộc tội. Nhiều quốc gia cho rằng, Nhà nước có quyền rút đơn kiện hoặc thoả thuận riêng với bị đơn nếu xét thấy việc truy tố có thể bất lợi cho lợi ích công (public interest). Việc quy định và áp dụng miễn truy tố tại Việt Nam tương tự như các quốc gia này là không hợp lý trong điều kiện hiện nay, nhưng nếu coi miễn truy tố là một trường hợp ngoại lệ của bắt buộc truy tố là có cơ sở.

Thứ ba, yêu cầu và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng được đặt ra các yêu cầu mới như mở rộng tranh tụng, kết hợp các phương thức tố tụng tư pháp và tố tụng phi tư pháp[10]. Tác giả cho rằng Việt Nam có thể tích hợp tuỳ nghi truy tố (với việc cho phép miễn truy tố một số trường hợp nhất định) thành các trường hợp ngoại lệ của bắt buộc truy tố mà tránh áp dụng tràn lan[11]. Bởi lẽ, miễn truy tố cũng là chế định thể hiện rõ nét nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật tố tụng hình sự khi cho phép các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cân nhắc việc truy tố hay không truy tố đối với bị can nếu họ thỏa mãn một số điều kiện nhất định. Trong khi đó, việc bắt buộc phải truy tố người phạm tội ra trước Tòa án chưa chắc đã mang lại các lợi ích cho xã hội, cho cộng đồng hoặc mang lại hiệu quả trong phòng ngừa tội phạm.

Trước đây, trong lịch sử Việt Nam đã từng có những quy định có liên quan đến miễn truy tố[12]. Thông tư liên bộ số 427/TT-LB giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 28/6/1963 quy định: “Khi nhận được bản cáo trạng và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có trách nhiệm thẩm tra nhanh chóng và ra một trong những quyết định sau: Phê chuẩn bản cáo trạng và truy tố bị can ra trước tòa; miễn tố bị can hoặc đình cứu vụ án theo quy định của pháp luật; hoàn lại hồ sơ để cơ quan công an điều tra bổ sung”...

Điểm d Điều 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 1960 quy định: “Khi kiểm sát việc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có quyền truy tố hoặc miễn tố can phạm; đình cứu các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật”, tuy nhiên, những văn bản này chưa đưa ra các căn cứ để đình chỉ vụ án và các căn cứ để miễn truy tố.

Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa có quy định trực tiếp về việc miễn truy tố. Tuy nhiên, trong một số văn bản có nội dung có thể tham khảo cho việc quy định và áp dụng miễn truy tố. Ví dụ: Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung giải thích: “Vì lợi ích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi”. Đồng thời, Điều 11 Nghị định này cũng quy định các biện pháp bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung gồm: (1) Không xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật có liên quan; (2) Loại trừ trách nhiệm theo quy định của pháp luật có liên quan; (3) Xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm theo quy định của pháp luật có liên quan.

Thực tiễn quy định và thực hiện các chức năng của VKSND phù hợp với việc ghi nhận miễn truy tố trong tố tụng hình sự. Về mặt từ ngữ, một số quy định liên quan đến chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát có thể được coi là đề cập đến quyền “lựa chọn, quyết định việc truy tố” của Viện kiểm sát. Ví dụ: Luật tổ chức VKSND năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 có quy định Viện kiểm sát có quyền “quyết định truy tố, không truy tố bị can” (khoản 7 Điều 16) và BLTTHS năm 2015 có quy định về “Không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án” trong thủ tục rút gọn (điểm b khoản 1 Điều 461). Tuy nhiên, những quy định này chưa thực sự đúng tinh thần của miễn truy tố.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được trao quyền quyết định việc truy tố đối với tội phạm và người phạm tội (thuộc chức năng thực hành quyền công tố) nên việc ghi nhận chức năng miễn truy tố thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cũng là phù hợp với thực tiễn hoạt động của cơ quan này.

2. Đề xuất, kiến nghị

Việt Nam theo mô hình tố tụng thẩm vấn, coi trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản. Do đó, để tránh mâu thuẫn với những giá trị cốt lõi của tố tụng hình sự, việc quy định miễn truy tố cũng cần chắt lọc những yếu tố phù hợp, tránh quy định và áp dụng tràn lan. Bên cạnh đó, việc trao quyền quyết định truy tố hay miễn truy tố cho cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm nảy sinh lo ngại về nguy cơ tùy tiện áp dụng hay lạm quyền, dẫn đến thiếu công bằng và mất niềm tin vào hệ thống tư pháp. Do đó, tác giả đề xuất bước đầu ghi nhận và áp dụng miễn truy tố trong tố tụng hình sự của Việt Nam như sau:

Một là, cần sửa đổi BLTTHS để quy định chính thức về miễn truy tố, coi đây là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc bắt buộc truy tố và giới hạn phạm vi áp dụng đối với: (1) Tội phạm ít nghiêm trọng và việc truy tố không đem lại lợi ích cho công cộng; (2) Cán bộ, công chức có vi phạm nhưng thuộc trường hợp năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi. Trong hai trường hợp này, việc truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án không bảo đảm lợi ích công hoặc gây ra chi phí tố tụng tốn kém hơn so với việc miễn truy tố.

Hai là, cần xây dựng một nền công tố vững mạnh. Cơ quan Viện kiểm sát/cơ quan Công tố thực hiện chức năng công tố là cơ quan chỉ đạo, tư vấn, hướng dẫn cho Cơ quan điều tra trong suốt quá trình điều tra; khi kết thúc điều tra, việc cân nhắc có tiếp tục truy tố hay không là thuộc về cơ quan Viện kiểm sát/cơ quan công tố. Ngoài ra, để tránh sự tuỳ nghi, lạm quyền của cơ quan công tố, ở các nước áp dụng chế định này này luôn có cơ chế giám sát nội tại chặt chẽ để ngăn ngừa, chế ước quyền tự quyết của Viện kiểm sát/Viện công tố trong việc truy tố hay không truy tố một tội phạm[13]. Sự giám sát này xuất phát từ chính các chủ thể chịu ảnh hưởng trực tiếp của quyết định miễn truy tố, đó là Tòa án, bị can, bị hại. Các biện pháp giám sát có thể là khiếu nại, kháng nghị, kháng cáo quyết định miễn truy tố. Các cơ chế giám sát này phải phù hợp với truyền thống lập pháp và hoàn cảnh của nước ta. Ví dụ: Trong trường hợp bị can không đồng ý với quyết định miễn truy tố thì có thể kháng cáo theo thủ tục kháng cáo đối với các quyết định có hiệu lực pháp luật như BLTTHS nước ta đang quy định. Trong trường hợp bị hại không đồng ý với quyết định miễn truy tố thì có thể khiếu nại đến Viện kiểm sát đã ra quyết định miễn truy tố... Vấn đề này có thể tham khảo kinh nghiệm của Liên bang Đức hoặc Vương quốc Anh, cho phép bị hại đề nghị một cơ quan nhà nước độc lập (ví dụ, Tòa án cùng cấp) xem xét lại tính đúng đắn của quyết định không truy tố[14]; hoặc kinh nghiệm từ Nhật Bản, thành lập Ủy ban xem xét lại quyết định truy tố (Kensatsu Shinsakai) dể xem xét các quyết định không truy tố của Kiểm sát viên[15].

Ba là, để bảo đảm khả năng áp dụng chế định miễn truy tố trên thực tế, việc trang bị các kiến thức lý luận nền tảng cho cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân là vô cùng cần thiết. Mỗi cán bộ, Kiểm sát viên cần nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Có như vậy, chế định miễn truy tố mới có khả năng được hiện thực hóa và áp dụng đúng trên thực tế.

Vũ Thị Sao Mai


[1] Hoàng Hải Yến, Góp ý chế định miễn truy tố trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Tạp chí Kiểm sát, số 05/2025, tr.16.

[2] Dubber, M. D. (2010), The legality principle in American and German criminal law: An essay in comparative legal history, Available at SSRN 1735966.

[3]  Nguyễn Quý Khuyến, Đặng Văn Thực, Cơ sở áp dụng chế định quyền tùy nghi truy tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 11/2024, tr.17.

[4] Lê Lan Chi, Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát, số 18/2022, tr. 30-38.

[5] Herbert L. Packer, Two models of the criminal process, University of Pennsylvania Law Review, 01/1964.

[6] Joycelyn M. Pollock, Ethical Dilemmas and Decisions in Criminal Justice, Cengage Learning, Boston, 2015, p.116

[7] Robert M Rich, Crime Control - A Theoretical View, From Essays on the Theory and Practice of Criminal Justice, 1977, p. 91-117.

[8] Lê Lan Chi, Tòa án với vai trò bảo đảm quyền con người trong mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 34, Số 01/2018, tr.2.

[9] Những lợi ích quan trọng hơn này thường là lợi ích công cộng của toàn xã hội. Xem thêm: Nguyễn Quý Khuyến, Đặng Văn Thực, Cơ sở áp dụng chế định quyền tùy nghi truy tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 11/2024.

[10] Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[11] Nguyễn Quý Khuyến, Đặng Văn Thực, Tlđd, tr.21.

[12] Hoàng Hải Yến, Tlđd, tr.18.

[13] Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy, Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.

[14] Nguyễn Quý Khuyến, Đặng Văn Thực, Tlđd, tr.2.

[15] Steele Stacey, Carol Lawson, Mari Hirayama, David Johnson, Lay Participation in Japanese Criminal Justice: Prosecution Review Commissions, the Lay-Judge System, and Penal Institution Visiting Committees, Asian Journal of Law and Society, 7/no. 1 (2020), p. 159–189

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 23/2025