Thống nhất tên gọi các loại hình tổ chức đảng ở cấp cơ sở trong toàn Đảng
Ngày đăng : 15:55, 31/07/2026
Quy định gồm nhiều nội dung quan trọng liên quan đến hệ thống tổ chức của Đảng; nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức; đảng viên; tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam; công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật; sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; cùng các quy định về tài chính của Đảng.
![]() |
|
Toàn cảnh Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Báo Điện tử Thông tin Chính phủ. |
Bổ sung nhiều quy định về hệ thống tổ chức của Đảng
Một trong những nội dung đáng chú ý của Quy định số 208-QĐ/TW là cụ thể hóa mô hình tổ chức của Đảng phù hợp với việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường, đặc khu), cấp tỉnh, thành phố và cấp Trung ương. Đây là hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng, thực hiện chức năng lãnh đạo toàn diện ở từng cấp và trong toàn Đảng.
Quy định cũng thí điểm thống nhất tên gọi các loại hình tổ chức đảng ở cấp cơ sở trong toàn Đảng, gồm: Đảng bộ cơ sở, đảng bộ trực thuộc cơ sở và chi bộ. Đối với các tổ chức đảng có đặc điểm riêng hoặc tính chất đặc thù, cơ cấu tổ chức bên trong được điều chỉnh phù hợp theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Đáng chú ý, tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn thí điểm được xác định gồm đảng bộ trực thuộc cơ sở và chi bộ.
Về tổ chức đảng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Quy định nêu rõ mô hình tổ chức ở từng cấp.
Ở Trung ương, thành lập Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng bộ Quốc hội, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ở cấp tỉnh, thành lập đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố và đảng bộ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh; đồng thời thí điểm thành lập đảng bộ HĐND tỉnh, thành phố và đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp tỉnh trực thuộc cấp ủy.
Đối với cấp xã, cấp ủy cấp tỉnh quyết định thành lập đảng bộ xã, phường, đặc khu là đảng bộ cơ sở trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh.
Đảng ủy xã, phường, đặc khu được giao thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức cơ sở đảng tại ban chỉ huy quân sự cấp xã, công an cấp xã, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác. Tại địa bàn dân cư, có thể thành lập đảng bộ trực thuộc cơ sở là cấp trên trực tiếp của các chi bộ thôn, tổ dân phố có đông đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Trường hợp chưa đủ ba đảng viên chính thức để thành lập tổ chức đảng, cấp ủy cấp trên trực tiếp sẽ giới thiệu đảng viên sinh hoạt tại tổ chức đảng phù hợp. Đảng ủy xã, phường, đặc khu cũng có thẩm quyền quyết định thành lập chi bộ tại các phòng, ban chuyên môn, đơn vị cấp xã và chi bộ thôn, tổ dân phố.
Quản lý hồ sơ đảng viên bằng dữ liệu điện tử
Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức bộ máy, Quy định số 208-QĐ/TW cũng bổ sung các quy định về quản lý hồ sơ và cơ sở dữ liệu đảng viên theo hướng hiện đại, thống nhất.
Theo đó, đảng ủy cơ sở hoặc đảng ủy trực thuộc cơ sở có trách nhiệm quản lý hồ sơ đảng viên, bao gồm hồ sơ đảng viên điện tử, phiếu đảng viên điện tử và cơ sở dữ liệu đảng viên của đảng bộ, chi bộ. Trường hợp không đủ điều kiện quản lý, cấp ủy cấp trên trực tiếp sẽ thực hiện việc quản lý và bảo quản hồ sơ.
Đảng ủy Bộ Ngoại giao quản lý hồ sơ, thẻ đảng viên và danh sách đảng viên trong toàn Đảng bộ theo quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Đối với đảng viên ra nước ngoài công tác, lao động hoặc học tập từ 12 tháng trở lên, cấp ủy quản lý hồ sơ có trách nhiệm hướng dẫn bổ sung lý lịch khi đảng viên trở về nước.
Quy định yêu cầu việc cập nhật, quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu đảng viên phải được thực hiện thống nhất theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Các cấp ủy có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc bổ sung lý lịch và quản lý hồ sơ đảng viên; đồng thời bảo đảm hồ sơ được quản lý chặt chẽ, không bị tẩy xóa hoặc tự ý sửa chữa. Việc xác định mức độ mật của từng loại tài liệu trong hồ sơ phải tuân thủ quy định của Ban Bí thư và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Quy định cụ thể hơn về xét tặng Huy hiệu Đảng
Một nội dung đáng chú ý khác của Quy định số 208-QĐ/TW là quy định chi tiết hơn về công tác khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhất là việc xét tặng Huy hiệu Đảng.
Theo Quy định, đối với tổ chức đảng, các hình thức khen thưởng gồm biểu dương, giấy khen, bằng khen, cờ thi đua, huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước. Đối với đảng viên, ngoài giấy khen, bằng khen còn được xét tặng Huy hiệu Đảng theo các mốc từ 30 năm đến 95 năm tuổi Đảng, cùng các hình thức khen thưởng khác theo quy định.
Quy định nêu rõ, đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn tư cách đảng viên, có đủ từ 30 năm tuổi Đảng trở lên (tính theo tháng) sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng theo từng mốc 30 năm, 35 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm và 95 năm tuổi Đảng.
Đối với đảng viên bị bệnh nặng hoặc từ trần, Quy định cho phép xem xét tặng hoặc truy tặng Huy hiệu Đảng sớm nhưng không quá một năm. Riêng đảng viên có từ 70 năm tuổi Đảng trở lên nếu bị bệnh nặng có thể được xét tặng Huy hiệu Đảng sớm nhưng không quá hai năm.
Bên cạnh đó, Quy định cũng làm rõ trường hợp đảng viên đang bị kỷ luật về Đảng tại thời điểm xét tặng Huy hiệu Đảng thì chưa được xem xét. Sau thời gian 6 tháng đối với hình thức khiển trách, 9 tháng đối với cảnh cáo và một năm đối với cách chức, nếu sửa chữa tốt khuyết điểm và được chi bộ công nhận thì sẽ được xem xét tặng Huy hiệu Đảng theo quy định.
Việc xét tặng giấy khen, bằng khen, cờ thi đua đối với tổ chức đảng; giấy khen, bằng khen đối với đảng viên; cũng như trình tự, thủ tục xét tặng Huy hiệu Đảng và các hình thức khen thưởng khác sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
