Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phòng, chống rửa tiền: Ban hành cơ chế đặc thù đáp ứng yêu cầu cam kết quốc tế

Ngày đăng : 15:04, 28/07/2026

(Kiemsat.vn) - Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP ngày 24/7/2026 quy định các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý những khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế.

Nghị quyết tập trung sửa đổi, bổ sung nhiều quy định quan trọng liên quan đến xác định chủ sở hữu hưởng lợi, minh bạch thông tin của thỏa thuận pháp lý, nhận biết khách hàng và quản lý rủi ro, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền và tăng cường tính minh bạch của hệ thống tài chính.

Hoàn thiện quy định về nhận biết khách hàng và xác định chủ sở hữu hưởng lợi

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết về minh bạch tài chính, trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế, việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.

Đáp ứng yêu cầu đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP ngày 24/7/2026 quy định các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tập trung vào những nội dung có ý nghĩa nền tảng trong công tác nhận diện, quản lý và kiểm soát các giao dịch có nguy cơ rửa tiền.

Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung quy định về thu thập thông tin nhận biết khách hàng trong các trường hợp đặc thù. Theo đó, ngoài các thông tin đã được quy định tại Điều 10 của Luật Phòng, chống rửa tiền, đối tượng báo cáo phải thu thập thêm thông tin khi khách hàng tham gia các thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác hoặc các hình thức có bản chất tương tự.

Đối với các trường hợp này, thông tin cần thu thập không chỉ dừng ở tổ chức hoặc cá nhân nhận ủy thác mà còn bao gồm cơ cấu của thỏa thuận ủy thác, thông tin về bên ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có), cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng đối với hoạt động ủy thác và các chủ thể liên quan khác.

Nghị quyết cũng bổ sung quy định về việc xác định và thu thập thông tin đối với người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Theo đó, đối tượng báo cáo phải thu thập thông tin về người thụ hưởng ngay khi chủ thể này được chỉ định; riêng việc xác minh thông tin được thực hiện tại thời điểm chi trả bảo hiểm. Đối với bảo hiểm nhóm, việc nhận diện người thụ hưởng phải dựa trên giấy tờ tùy thân, tài liệu chứng minh quan hệ với người được bảo hiểm và các tài liệu cần thiết khác để bảo đảm xác định đúng chủ thể được hưởng quyền lợi.

Song song với việc mở rộng yêu cầu về nhận biết khách hàng, Nghị quyết sửa đổi toàn diện quy định về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi tại Điều 7 Nghị định số 19/2023/NĐ-CP.

Theo quy định mới, đối với khách hàng là tổ chức, việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi không chỉ căn cứ vào tỷ lệ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% vốn điều lệ hoặc 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên, mà còn yêu cầu rà soát toàn bộ các tầng sở hữu để xác định cá nhân kiểm soát cuối cùng. Trường hợp không xác định được theo tiêu chí sở hữu hoặc có nghi ngờ về chủ sở hữu hưởng lợi đã được xác định, đối tượng báo cáo phải xem xét các hình thức kiểm soát khác trên thực tế như quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo, quyền quyết định chiến lược đầu tư, tài chính, tổ chức lại hoặc giải thể doanh nghiệp.

Trong trường hợp vẫn không xác định được chủ sở hữu hưởng lợi theo các tiêu chí trên, cá nhân giữ vị trí quản lý cấp cao có quyền hạn lớn nhất được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi, ngoại trừ trường hợp là người đại diện phần vốn nhà nước.

Đối với quỹ được thành lập theo pháp luật nước ngoài và các thỏa thuận pháp lý, Nghị quyết cũng quy định rõ việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi phải bao quát đầy đủ các chủ thể có vai trò kiểm soát hoặc hưởng lợi thực tế, qua đó tăng cường tính minh bạch trong cấu trúc sở hữu và kiểm soát tài sản.

Xử lý những khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền. (Ảnh minh họa)

Tăng cường minh bạch thông tin, đáp ứng yêu cầu quản lý và cam kết quốc tế

Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế nhận biết khách hàng, Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP dành nhiều nội dung sửa đổi quy định về minh bạch thông tin của các thỏa thuận pháp lý.

Theo đó, bên nhận ủy thác hoặc chủ thể giữ vai trò tương đương có trách nhiệm thu thập, cập nhật đầy đủ thông tin nhận dạng của các bên tham gia thỏa thuận, bao gồm bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát và cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng đối với hoạt động ủy thác.

Trường hợp các chủ thể tham gia là pháp nhân hoặc một thỏa thuận pháp lý khác, thông tin phải được bổ sung cả về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý đó. Đồng thời, các bên nhận ủy thác còn có trách nhiệm thu thập thông tin cơ bản về các đại lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ được quản lý của thỏa thuận pháp lý (nếu có).

Toàn bộ các thông tin nêu trên phải được lưu giữ tối thiểu 05 năm kể từ thời điểm bên nhận ủy thác hoặc chủ thể giữ vai trò tương đương chấm dứt tham gia vào hoạt động của thỏa thuận pháp lý. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý nhà nước, điều tra, truy tố và xét xử được quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp các thông tin này khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Việc sửa đổi các quy định về minh bạch thông tin và xác định chủ sở hữu hưởng lợi được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng nhằm tăng khả năng truy vết dòng tiền, nhận diện chủ thể kiểm soát thực sự trong các giao dịch tài chính, hạn chế tình trạng lợi dụng cấu trúc sở hữu phức tạp hoặc các thỏa thuận pháp lý để che giấu tài sản, che giấu danh tính và thực hiện hành vi rửa tiền.

Đồng thời, các quy định mới cũng góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro của các tổ chức báo cáo, tạo điều kiện để việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro, cập nhật thông tin nhận biết khách hàng và kiểm soát giao dịch được thực hiện đầy đủ, hiệu quả hơn.

Theo Nghị quyết, các cơ chế, chính sách đặc thù này có hiệu lực thi hành từ ngày 24/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027. Trong thời gian Nghị quyết còn hiệu lực, nếu có quy định khác với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì thực hiện theo quy định của Nghị quyết.

Đáng chú ý, Nghị quyết cũng quy định rõ trường hợp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2023/NĐ-CP và Thông tư số 27/2025/TT-NHNN có hiệu lực trước ngày 01/3/2027 thì các nội dung tương ứng của Nghị quyết sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản đó được áp dụng.

Bên cạnh đó, Nghị quyết bảo đảm tính ổn định của hoạt động quản lý khi khẳng định các thông tin, hồ sơ, tài liệu và dữ liệu liên quan đến chủ sở hữu hưởng lợi đã được thu thập, xác minh, lưu trữ hoặc cung cấp hợp pháp trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực vẫn tiếp tục có giá trị pháp lý và được sử dụng theo quy định của pháp luật. Việc Nghị quyết hết hiệu lực cũng không làm phát sinh nghĩa vụ thực hiện lại các công việc đã được thực hiện đúng quy định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Việc ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc kịp thời tháo gỡ các vướng mắc về thể chế, nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền, tăng cường minh bạch tài chính và đáp ứng các yêu cầu cấp bách trong thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế.

Phan Anh