Kinh nghiệm từ Liên bang Nga và Trung Quốc về xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự

Ngày đăng : 14:20, 10/07/2026

(Kiemsat.vn) - Thông qua việc nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của Liên bang Nga và Trung Quốc - hai quốc gia có những quy định tiến bộ về xử lý vật chứng, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

1. Quy định của pháp luật Liên bang Nga

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2001 của Liên bang Nga được Duma Quốc gia Nga (The State Duma) thông qua ngày 22/11/2001 và được Hội đồng Liên bang (the Federation Council) phê chuẩn ngày 05/12/2001, thay thế BLTTHS năm 1960, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2002. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần gần đây nhất vào ngày 28/02/2025 (gọi tắt là BLTTHS Liên bang Nga). Theo đó, BLTTHS Liên bang Nga quy định vật chứng (demonstrative proof) là một loại chứng cứ dùng để chứng minh trong vụ án hình sự (điểm 4 khoản 2 Điều 74). Tuy không đưa ra khái niệm về vật chứng nhưng đã liệt kê các loại vật được xem là vật chứng bao gồm các vật thể, tài liệu, đồ vật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi phạm tội và có thể giúp làm sáng tỏ vụ án[1] (Điều 81).

Để một đồ vật hoặc tài liệu được xác định là vật chứng, cần trải qua quá trình kiểm tra và có quyết định công nhận của cơ quan có thẩm quyền. Quyết định này phải được ban hành trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ khi thu giữ. Trường hợp số lượng lớn hoặc cần kiểm tra chuyên sâu, thời hạn có thể được gia hạn tối đa là 30 ngày với lý do hợp lý và được phê duyệt (khoản 2 Điều 81 và khoản 2 Điều 81.1). Quy định này nhằm đảm bảo quản lý vật chứng chặt chẽ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định thẩm quyền xử lý vật chứng thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra (Điều tra viên), Viện kiểm sát (Công tố viên) và Tòa án (khoản 4 Điều 82 BLTTHS). Theo đó, Cơ quan điều tra có trách nhiệm quyết định các biện pháp tạm thời đối với vật chứng trong quá trình điều tra như niêm phong, bảo quản hoặc định giá vật chứng; Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng nhằm bảo đảm tính hợp pháp của các biện pháp này. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc ra quyết định xử lý vật chứng thông qua bản án hoặc quyết định tư pháp.

Về thời điểm và thời hạn xử lý vật chứng: Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga cho phép việc xử lý vật chứng trước thời điểm Tòa tuyên án. Theo đó, trước khi xét xử, vật chứng có kích thước lớn hoặc khó bảo quản có thể được chụp ảnh, quay video, niêm phong và chuyển giao bảo quản theo quy định. Nếu vật chứng không ảnh hưởng đến việc chứng minh vụ án, có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc định giá và bán đấu giá, số tiền thu được sẽ được nộp vào tài khoản ký quỹ (mục (b, c).1 khoản 2 Điều 82). Trong quá trình xét xử, Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ liên quan đến vật chứng trước khi ra quyết định xử lý chính thức, đồng thời ưu tiên trả lại vật chứng dễ hư hỏng hoặc bán đấu giá nếu không thể hoàn trả. Sau khi bản án có hiệu lực, các vật chứng bị tịch thu hoặc tiêu hủy nếu không có giá trị sử dụng, các vật chứng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức sẽ được hoàn trả. Đặc biệt, BLTTHS Liên bang Nga quy định về trình tự công nhận vật chứng trong các vụ án kinh tế, đảm bảo tính hợp pháp trong các quyết định xử lý vật chứng liên quan đến tội phạm tài chính. Điều 81.1 BLTTHS Liên bang Nga quy định về thời hạn hoàn trả các tài liệu và đối tượng không được công nhận là vật chứng. Tuy nhiên, Điều 82 Bộ luật không đề cập đến thời hạn cụ thể cho việc hoàn trả vật chứng đã được công nhận. Điều này có thể dẫn đến tình trạng vật chứng bị giữ lại không cần thiết trong một thời gian dài[2].

Các biện pháp xử lý vật chứng được quy định cụ thể tại Điều 81 và Điều 81.1 BLTTHS Liên bang Nga, bao gồm: (1) Tịch thu, tiêu hủy hoặc chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền đối với công cụ, phương tiện phạm tội, hàng hóa cấm lưu thông, sản phẩm công nghiệp bất hợp pháp; (2) Hoàn trả cho chủ sở hữu hợp pháp đối với tiền, tài sản có giá trị nếu không thuộc diện kê biên hoặc tịch thu; (3) Bán đấu giá và nộp vào tài khoản ký quỹ đối với vật chứng không thể lưu giữ lâu dài; (4) Chuyển giao cho các cơ quan chuyên môn đối với động vật bị thu giữ, gỗ và sản phẩm từ gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp; (5) Xử lý đặc biệt đối với vật chứng nguy hiểm như chất ma túy, chất gây nghiện, thiết bị lưu trữ điện tử và các sản phẩm công nghiệp vi phạm quy định pháp luật. Đối với các vật chứng liên quan đến tội phạm tài chính, BLTTHS Liên bang Nga quy định về việc tịch thu tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội và thu nhập từ các tài sản này, đồng thời xác định rõ trường hợp tài sản có thể được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Ngoài việc quy định về xử lý vật chứng theo các loại vật chứng có tính chất chung, Bộ luật còn quy định cụ thể đối với những vật chứng mang tính chất đặc thù như: (1) Công cụ, thiết bị hoặc các phương tiện khác thực hiện tội phạm thuộc sở hữu của bị cáo sẽ bị tịch thu, hoặc chuyển giao cho các cơ quan có thẩm quyền, hoặc tiêu hủy (điểm 1 khoản 3 Điều 81); (2) Những vật cấm lưu thông sẽ được chuyển giao cho các cơ quan có thẩm quyền hoặc tiêu hủy; hàng hóa công nghiệp nhẹ bị tịch thu từ giao dịch bất hợp pháp sẽ bị tiêu hủy; các sản phẩm thuốc lá, sản phẩm chứa nicotine và nguyên liệu sản xuất, thiết bị công nghệ chủ yếu để sản xuất các sản phẩm thuốc lá và chứa nicotine sẽ bị tiêu hủy; các sản phẩm cồn, etanol và các vật dụng liên quan đến sản xuất và giao dịch bất hợp pháp sẽ bị tiêu hủy, xử lý hoặc bán theo quyết định của Tòa án (điểm 2 khoản 3 Điều 81); (3) Các đối tượng không có giá trị và không được yêu cầu, bởi các bên sẽ bị tiêu hủy và trong trường hợp có yêu cầu của các bên quan tâm hoặc cơ quan thì có thể được giao cho họ (điểm 3 khoản 3 Điều 81); (4) Tiền, tài sản có giá trị và các tài sản khác thu được từ việc thực hiện tội phạm cùng lợi nhuận từ chúng sẽ được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (điểm 4 khoản 3 Điều 81); tiền, tài sản có giá trị và tài sản khác, được đề cập trong điểm “a” - “c” phần đầu tiên của Điều 104.1 Bộ luật Hình sự của Liên bang Nga sẽ bị tịch thu (mục 4.1 điểm 4 khoản 3 Điều 81); (5) Các vật chứng dễ hư hỏng hoặc nhanh mất giá trị được ưu tiên trả lại cho chủ sở hữu hoặc bán đấu giá nếu không thể hoàn trả; nếu vật chứng đã hư hỏng, Tòa án có thể ra quyết định tiêu hủy; đối với các chất ma túy, chất gây nghiện, thực vật chứa chất cấm và các vật dụng nguy hiểm khác, sau khi nghiên cứu cần thiết, chúng sẽ bị tiêu hủy theo quyết định của Tòa án; tài sản thu lợi từ tội phạm sẽ bị tịch thu; các thiết bị lưu trữ thông tin điện tử có thể được trả lại cho chủ sở hữu sau khi hoàn tất điều tra nếu không ảnh hưởng đến việc chứng minh; các hàng hóa bất hợp pháp như thuốc lá, rượu, sản phẩm công nghiệp bị thu giữ sẽ bị tiêu hủy theo quyết định của Tòa án. Đối với động vật bị thu giữ, nếu không thể trả về môi trường tự nhiên, thì có thể được chuyển giao miễn phí cho các cơ quan nuôi dưỡng hoặc bán đấu giá theo quyết định của Tòa án. Ngoài ra, gỗ và sản phẩm từ gỗ bị thu giữ trong quá trình điều tra tội phạm sẽ được bán, xử lý hoặc tiêu hủy và số tiền thu được sẽ nộp vào tài khoản ký quỹ của cơ quan tiến hành vụ án. Những quy định này nhằm bảo đảm việc xử lý vật chứng được thực hiện linh hoạt, hạn chế lãng phí và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình tố tụng (khoản 2 Điều 82 BLTTHS).

2. Quy định của pháp luật Trung Quốc

Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có hiệu lực ngày 01/01/1980, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1996, 2012, 2018 (gọi tắt là BLTTHS Trung Quốc).

Về thẩm quyền xử lý vật chứng, BLTTHS Trung Quốc quy định 03 cơ quan chính có trách nhiệm xử lý vật chứng bao gồm Công an, Viện kiểm sát và Tòa án. Theo Điều 144 và Điều 245 BLTTHS Trung Quốc, Công an có thẩm quyền niêm phong, tạm giữ và tịch thu vật chứng ngay từ giai đoạn điều tra để phục vụ công tác chứng minh tội phạm; Viện kiểm sát có trách nhiệm xác minh, quyết định tiếp tục bảo quản hoặc giải tỏa vật chứng nếu xét thấy không còn cần thiết cho việc truy tố (Điều 177); Tòa án giữ vai trò quyết định cuối cùng về việc xử lý vật chứng thông qua bản án hoặc quyết định tố tụng, bao gồm việc hoàn trả tài sản hợp pháp cho chủ sở hữu hoặc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (Điều 272).

Thời điểm và thời hạn xử lý vật chứng được quy định chặt chẽ nhằm hạn chế các trường hợp lạm dụng quyền hạn hoặc kéo dài thời gian xử lý không cần thiết. Theo Điều 141 BLTTHS Trung Quốc, vật chứng phải được thu giữ, niêm phong ngay khi phát hiện có giá trị chứng minh trong vụ án. Điều 145 BLTTHS Trung Quốc quy định nếu tài sản bị thu giữ không liên quan đến vụ án thì phải được giải tỏa trong vòng 03 ngày. Trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định không truy tố, tài sản bị phong tỏa hoặc tạm giữ phải được hoàn trả ngay lập tức (Điều 177). Đối với các vụ án liên quan đến tham nhũng, hối lộ hoặc khủng bố, nếu bị can đã bỏ trốn trên một năm hoặc đã chết, tài sản thu lợi bất chính có thể bị tịch thu theo quy trình đặc biệt do Viện kiểm sát khởi xướng (Điều 298).

Bên cạnh đó, các biện pháp xử lý vật chứng trong BLTTHS Trung Quốc bao gồm: Hoàn trả tài sản hợp pháp; tịch thu tài sản bất hợp pháp; định giá và thanh lý tài sản, cũng như tiêu hủy vật chứng không phù hợp với quy định pháp luật. Theo Điều 245 Bộ luật này, vật chứng phải được quản lý chặt chẽ, kèm theo danh sách, hình ảnh hoặc tài liệu chứng nhận nếu không thể chuyển giao cùng hồ sơ vụ án nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn và ngăn chặn hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép. Nếu quyền sở hữu tài sản rõ ràng, cơ quan tố tụng phải tiến hành trả lại ngay sau khi thực hiện các thủ tục cần thiết. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu, tài sản chỉ được trả lại sau khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án. Tịch thu tài sản bất hợp pháp là một biện pháp quan trọng nhằm xử lý các khoản thu lợi bất chính liên quan đến tội phạm, được thực hiện theo quy định tại Điều 272 Bộ luật này.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Những vấn đề liên quan đến xử lý vật chứng được quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015); Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015), một số văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng[3]. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy một số quy định về xử lý vật chứng trong các văn bản trên còn hạn chế, nhất là hạn chế về tính linh hoạt trong xử lý vật chứng có kích thước lớn, dễ hư hỏng hoặc có giá trị kinh tế cao như tiền, bất động sản, chứng khoán, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án, hạn chế khả năng khai thác nguồn lực từ tài sản bị phong tỏa. Đồng thời, quy định về tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng chưa hoàn thiện, chưa đảm bảo đầy đủ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp.

Tham khảo kinh nghiệm từ Liên bang Nga, Trung Quốc và định hướng cải cách pháp luật, tác giả cho rằng Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vật chứng theo hướng linh hoạt và hiệu quả hơn, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung cơ chế xử lý đối với vật chứng cồng kềnh, dễ hư hỏng bằng hình thức chụp ảnh, quay phim hoặc lấy mẫu vật, đồng thời áp dụng mô hình đấu giá công khai để giảm thiểu chi phí lưu trữ không cần thiết. Bên cạnh đó, cần có cơ chế quản lý minh bạch hơn đối với tài sản có giá trị, áp dụng mô hình gửi tài sản vào ngân hàng để đảm bảo an toàn và tránh thất thoát. Ngoài ra, việc bổ sung các quy định về phong tỏa tài sản (kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,…) trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, cũng như quy định thời hạn giải tỏa tài sản nếu không liên quan đến vụ án là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự.

Thứ hai, cần quy định cụ thể thời hạn trả lại vật chứng cho chủ sở hữu, theo đó, quy định thời hạn 05 ngày kể từ ngày có căn cứ xác định đủ điều kiện trả lại vật chứng theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 164/2024/QH15 của Quốc hội thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự và điểm c khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2025/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQP ngày 26/02/2025 của liên ngành các cơ quan trung ương quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành điều 3 Nghị quyết số 164/2024 (Thông tư liên tịch số 01/2025) là phù hợp và ghi nhận chính thức quy định này khi sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và văn bản pháp luật có liên quan đến việc xử lý vật chứng của Việt Nam quy định trả lại vật chứng là tiền cho bị hại, “có văn bản đề nghị trả lại số tiền thiệt hại của bị can, bị cáo hoặc người khác là chủ sở hữu” (điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2025). Tuy nhiên, theo chúng tôi không nên đặt ra quy định này vì việc xử lý là do cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định; nếu giữ nguyên quy định trên sẽ gây khó khăn trong việc xử lý vật chứng là tiền trong việc trả lại cho bị hại.

Theo quy định hiện nay, vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy[4]. Quy định trên chưa phù hợp về quyền tài sản. Thực tế cho thấy, có trường hợp tài sản có thể không có giá trị vật chất nhưng lại có giá trị tinh thần đối với chủ sở hữu. Chúng tôi cho rằng BLTTHS Liên bang Nga quy định “những vật không có giá trị và không được bên liên quan yêu cầu sẽ bị tiêu hủy, nhưng nếu có đơn đề nghị của cá nhân hay tổ chức chúng có thể được giao lại cho họ”[5], đây là nội dung hợp lý, bảo vệ được quyền đối với tài sản của mình.

Thứ ba, thực tế có những trường hợp trong quá trình điều tra, xác minh vật chứng của một vụ án, cơ quan chức năng phát hiện vật chứng này đồng thời là vật chứng đang được truy tìm trong một vụ án khác. Hiện nay, BLHS và BLTTHS năm 2015 của Việt Nam chưa có quy định cụ thể để xử lý tình huống này[6]. Trong khi đó, theo quy định của BLTTHS Liên bang Nga, khi tuyên án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu một vật chứng đang được xem xét trong vụ án đó đồng thời cũng là vật chứng trong một hoặc nhiều vụ án khác hoặc là mẫu vật đủ để nghiên cứu so sánh, thì vật chứng này sẽ được chuyển giao cho Cơ quan điều tra hoặc Tòa án đang thụ lý vụ án mà chưa có bản án hoặc quyết định đình chỉ[7]. Quy định này có thể là một hướng tham khảo để hoàn thiện pháp luật Việt Nam, nhằm bảo đảm việc xử lý vật chứng được thống nhất và phù hợp với thực tiễn.

Thứ tư, đối với trường hợp vật chứng nên được trả lại nhưng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp: Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu vật chứng[8] nên thực tế gặp khó khăn, lúng túng khi xử lý cũng như hướng giải quyết đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu. Do vậy, cần có cơ chế pháp lý rõ ràng để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong xử lý vật chứng đối với trường hợp này.

Tham khảo BLTTHS Liên bang Nga có thể thấy, một hướng tiếp cận hợp lý khi quy định: “Những vật chứng không thuộc diện tiêu hủy sẽ được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu, tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước. Các tranh chấp về quyền sở hữu vật chứng sẽ được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự” (mục 6 khoản 3 Điều 81 BLTTHS Liên bang Nga). Quy định này có thể là giải pháp tham khảo cho pháp luật Việt Nam, giúp tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xử lý vật chứng, đồng thời bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan và tránh tình trạng vật chứng bị bỏ mặc hoặc xử lý không thống nhất.

Bên cạnh đó, theo Điều 298 BLTTHS Trung Quốc, nếu nghi can, bị can lẩn trốn hơn một năm mà không thể đưa ra xét xử hoặc đã chết thì tài sản thu lợi bất hợp pháp hoặc tài sản khác liên quan đến vụ án phải bị thu hồi, Viện kiểm sát có thể bằng văn bản gửi đến Tòa án để yêu cầu tịch thu số tài sản đó; đồng thời, nếu cơ quan Công an phát hiện tài sản thuộc diện này, thì sẽ lập biên bản tịch thu và gửi cho Viện kiểm sát để tiến hành các thủ tục pháp lý tiếp theo. Quy định này cho thấy Trung Quốc có cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc xử lý tài sản của nghi can, bị can bỏ trốn hoặc đã chết, nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản và đảm bảo tài sản thu lợi bất hợp pháp không bị chiếm giữ trái phép. Đây có thể là một hướng tham khảo cho pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng quy định về xử lý tài sản của nghi can, bị can thuộc các vụ án đặc biệt nghiêm trọng khi họ không thể đưa ra xét xử hoặc đã qua đời. Việc thiết lập cơ chế tương tự có thể giúp bảo đảm tính công bằng, tránh thất thoát tài sản bất hợp pháp và nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Ngô Văn Lượng - Lê Huỳnh Tấn Duy

------------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Ngô Văn Lượng, Lê Huỳnh Tấn Duy, “Một số vấn đề về xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội”, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2023, tr.35.

2. Vũ Thành Huy, “Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong các vụ án hình sự”, https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-xu-ly-vat-chung-trong-cac-vu-an-hinh-su1661007985-a122795.html.

3. Ерошкин, В. А. (2023), Особенности признания предметов и документов вещественными доказательствами по уголовным делам о преступлениях в сфере информационно-телекоммуникационных технологий (по материалам территориального органа внутренних дел), Уфимский юридический институт Министерства внутренних дел Российской Федерации, Уфа, C.18.

4. Vanov, A. A. (2020), Танговые доказательства в уголовном процессе Российской Федерации, Академия права Российской Федерации, Москва.


[1] . Vanov, A. A. (2020), Танговые доказательства в уголовном процессе Российской Федерации, Академия права Российской Федерации, Москва.

[2] . Ерошкин, В. А. (2023), Особенности признания предметов и документов вещественными доказательствами по уголовным делам о преступлениях в сфере информационно-телекоммуникационных технологий (по материалам территориального органа внутренних дел), Уфимский юридический институт Министерства внутренних дел Российской Федерации, Уфа, C.18.

[3] . Nghị định số 142/2024/NĐ-CP ngày 30/10/2024 của Chính phủ quy định về quản lý kho vật chứng và tài liệu, đồ vật; Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTC-BTP ngày 24/10/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS, thi hành tạm giữ và thi hành án hình sự;…

[4] . Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

[5] . Khoản 3 Điều 81 BLTTHS Liên bang Nga.

[6] . Vũ Thành Huy, “Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong các vụ án hình sự”, https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-xu-ly-vat-chung-trong-cac-vu-an-hinh-su1661007985-a122795.html, [truy cập ngày 06/3/2025].

[7] . Bổ sung theo Luật Liên bang ngày 06/4/2024 số 73-FZ.

[8] . Ngô Văn Lượng, Lê Huỳnh Tấn Duy, “Một số vấn đề về xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội”, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2023, tr.35.

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 22/2025