Quy định mới về xử lý kỷ luật viên chức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026

Ngày đăng : 15:23, 02/07/2026

(Kiemsat.vn) - Chính phủ ban hành Nghị định số 234/2026/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức.

Từ ngày 1/7/2026, quy định mới của Chính phủ về xử lý kỷ luật viên chức chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan. Nghị định quy định toàn diện về các hình thức kỷ luật, nguyên tắc xử lý, các hành vi vi phạm, trường hợp chưa xem xét kỷ luật cũng như trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong quá trình xử lý, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Bốn hình thức kỷ luật đối với viên chức

Theo Nghị định, viên chức vi phạm bị áp dụng một trong bốn hình thức kỷ luật gồm: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc.

Ngoài việc bị áp dụng hình thức kỷ luật, viên chức còn bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.

Đáng chú ý, viên chức bị Tòa án tuyên phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Đối với viên chức quản lý bị kết án hình sự, khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực thì đương nhiên thôi giữ chức vụ quản lý đã được bổ nhiệm.

Nghị định quy định viên chức bị xử lý kỷ luật khi có hành vi vi phạm quy định của Đảng và pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ theo vị trí việc làm; vi phạm nghĩa vụ của viên chức; thực hiện những việc viên chức không được làm; vi phạm đạo đức nghề nghiệp, văn hóa công sở, văn hóa giao tiếp với Nhân dân; vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Mức độ vi phạm được phân thành ba cấp: (1) Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng: tác hại không lớn, ảnh hưởng chủ yếu trong phạm vi nội bộ, làm giảm uy tín của cơ quan, đơn vị; (2) Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng: tác động ra ngoài phạm vi nội bộ, gây dư luận xấu trong viên chức và Nhân dân, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức; (3) Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng: gây tác động lớn đến toàn xã hội, tạo dư luận đặc biệt bức xúc, làm mất uy tín của cơ quan, đơn vị.

Mỗi hành vi chỉ xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật

Nghị định yêu cầu việc xử lý kỷ luật phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên được xem xét cùng thời điểm thì phải kết luận từng hành vi nhưng chỉ quyết định một hình thức kỷ luật chung ở mức cao nhất; không tách từng hành vi để áp dụng nhiều hình thức kỷ luật khác nhau.

Đối với viên chức đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật mà tiếp tục vi phạm, Nghị định quy định áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức đang thi hành hoặc nặng hơn một mức so với mức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm mới, tùy từng trường hợp cụ thể.

Khi xem xét xử lý kỷ luật, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá toàn diện nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; nguyên nhân, hoàn cảnh xảy ra vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; thái độ tiếp thu, khắc phục hậu quả của viên chức.

Đồng thời, Nghị định khẳng định không được sử dụng xử phạt vi phạm hành chính để thay thế kỷ luật hành chính và việc xử lý kỷ luật không thay thế trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

  • Bảo đảm thống nhất giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật hành chính

  • Một nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định chặt chẽ mối quan hệ giữa xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý kỷ luật hành chính.

    Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật của Đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xem xét xử lý kỷ luật hành chính, trừ các trường hợp pháp luật quy định chưa xem xét kỷ luật.

    Hình thức kỷ luật hành chính phải tương xứng với hình thức kỷ luật của Đảng. Nếu hình thức kỷ luật của Đảng được thay đổi thì hình thức kỷ luật hành chính cũng phải được điều chỉnh tương ứng. Trường hợp quyết định kỷ luật của Đảng bị hủy bỏ thì cơ quan có thẩm quyền cũng phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định kỷ luật hành chính.

    Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý nhưng bị kỷ luật Đảng bằng hình thức cách chức thì hình thức kỷ luật hành chính được áp dụng là cảnh cáo.

  • Viên chức đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực tiếp tục vi phạm chính hành vi đã bị xử lý thì được xác định là tái phạm.

    Quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực trong thời hạn 12 tháng. Nếu trong thời gian này viên chức không tiếp tục vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định đương nhiên hết hiệu lực, không cần ban hành văn bản chấm dứt hiệu lực.

    Các quyết định kỷ luật phải được lưu trong hồ sơ viên chức, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định; hình thức kỷ luật cũng phải được ghi vào lý lịch viên chức.

    Đối với trường hợp viên chức chuyển công tác nhưng sau đó mới phát hiện hành vi vi phạm tại cơ quan cũ và vẫn còn trong thời hiệu xử lý thì cơ quan mới có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật; cơ quan cũ phải phối hợp, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan.

  • Những trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật

    Nghị định quy định rõ các trường hợp tạm thời chưa xem xét xử lý kỷ luật, gồm: Viên chức đang điều trị bệnh hiểm nghèo, mất khả năng nhận thức hoặc đang điều trị nội trú do bệnh nặng có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền. Viên chức nữ đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức nam đang trực tiếp nuôi con dưới 12 tháng tuổi trong trường hợp vợ chết hoặc không thể nuôi con vì sự kiện bất khả kháng, trừ khi người vi phạm có văn bản đề nghị được xem xét kỷ luật. Viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ hoặc tạm giam chờ kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Các trường hợp chưa xem xét kỷ luật khác theo quy định của pháp luật.

  • Bên cạnh đó, Nghị định nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm của viên chức trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời quy định không được cử người có quan hệ thân thích hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc tham gia Hội đồng kỷ luật hoặc chủ trì cuộc họp kiểm điểm nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng.

    Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

  • Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật theo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về đất đai và tháo gỡ khó khăn đối với các dự án tồn đọng. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Tự Thức