Quy định mới về vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Ngày đăng : 09:48, 01/07/2026
Nghị định quy định toàn diện về nguyên tắc xác định vị trí việc làm; danh mục vị trí việc làm; bậc nghề nghiệp; bản mô tả công việc và khung năng lực; thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh danh mục vị trí việc làm cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý vị trí việc làm viên chức.
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là quy định chặt chẽ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm nhằm bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, việc xác định vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị; đồng thời phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.
Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất và nội dung công việc tương đồng. Việc cụ thể hóa nhiệm vụ theo từng lĩnh vực chuyên môn, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ chỉ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, không làm thay đổi tên gọi hoặc làm phát sinh vị trí việc làm mới.
Đối với vị trí quản lý, Nghị định quy định mỗi chức danh quản lý chỉ tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có nhiều cấp phó thì việc phân công phụ trách các lĩnh vực không làm phát sinh thêm vị trí việc làm hoặc thay đổi tên gọi của vị trí đã được xác định. Đồng thời, vị trí quản lý phải gắn với một vị trí chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí hỗ trợ phù hợp để làm căn cứ xác định yêu cầu năng lực, nhiệm vụ và chế độ, chính sách đối với viên chức.
![]() |
|
Quy định chặt chẽ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm nhằm bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập (ảnh minh họa). |
Theo Nghị định, danh mục vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định thống nhất theo ba nhóm gồm: vị trí việc làm quản lý, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ.
Việc sử dụng danh mục vị trí việc làm phải bảo đảm không phát sinh vị trí ngoài khung do Chính phủ ban hành; không tự ý thay đổi tên gọi, chia tách hoặc gộp các vị trí việc làm.
Đối với những vị trí được quy định đồng thời trong nhóm chuyên môn, nghiệp vụ và nhóm hỗ trợ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định việc áp dụng trên cơ sở xem xét toàn diện mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; tính chất sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành và vai trò của vị trí trong quy trình thực hiện nhiệm vụ.
Nghị định cũng quy định trường hợp pháp luật chuyên ngành đã có quy định riêng về danh mục vị trí việc làm thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Một điểm mới quan trọng của Nghị định là quy định thống nhất hệ thống 05 bậc nghề nghiệp đối với các vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ trên phạm vi cả nước.
Theo đó, bậc nghề nghiệp được xác định từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là thấp nhất và bậc 5 là cao nhất. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và yêu cầu hoạt động, mỗi đơn vị sự nghiệp công lập được xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng cho từng vị trí nhưng không vượt quá khung bậc đã được Chính phủ quy định.
Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ; việc thay đổi bậc nghề nghiệp không làm thay đổi vị trí việc làm đang đảm nhiệm mà chỉ là căn cứ để xếp lương và thực hiện các chế độ theo quy định.
Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, việc xếp lương tiếp tục áp dụng theo Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Theo đó, bậc 1 tương ứng với lương loại B; bậc 2 là loại A0; bậc 3 là loại A1; bậc 4 là loại A2.1 và bậc 5 là loại A3.1.
Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý, tiền lương được xác định theo bậc nghề nghiệp của vị trí chuyên môn hoặc vị trí hỗ trợ đang đảm nhiệm, đồng thời hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định hiện hành.
Để bảo đảm cơ cấu đội ngũ hợp lý, Nghị định quy định tỷ lệ tối đa viên chức được bố trí ở từng bậc nghề nghiệp đối với từng vị trí việc làm.
Theo đó, đối với các vị trí có bậc nghề nghiệp cao nhất là bậc 5, số viên chức ở bậc này không vượt quá 30% tổng biên chế được giao; bậc liền kề không vượt quá 40%, phần còn lại do đơn vị quyết định.
Đối với vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, tỷ lệ viên chức ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng biên chế. Trường hợp vị trí chỉ áp dụng hai bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.
Nghị định cũng cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tổ chức khoa học và công nghệ công lập được chủ động quyết định tỷ lệ bố trí viên chức theo bậc nghề nghiệp khác với khung chung, phù hợp yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị.
