Hoàn thiện quy định của pháp luật về xếp loại chấp hành án phạt tù
Ngày đăng : 10:31, 30/06/2026
1. Một số hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật về xếp loại chấp hành án phạt tù
Một là, khoản 2 Điều 35 Luật thi hành án hình sự năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (gọi là Luật THAHS năm 2019) chưa đảm bảo tính thống nhất, có thể dẫn đến nhận thức khác nhau về việc nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân.
Khoản 2 Điều 35 Luật THAHS năm 2019 quy định: Căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo, kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một trong các mức tốt, khá, trung bình, kém”.
Với quy định trên, có thể hiểu rằng, căn cứ cho việc nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù đối với mỗi phạm nhân bao gồm: (1) Kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù; (2) Kết quả thực hiện nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo; (3) Kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Theo đó, ngoài kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của mỗi phạm nhân, cơ sở giam giữ phạm nhân còn phải tiếp tục xem xét đến kết quả phạm nhân đó thực hiện nội quy cơ sở giam giữ, kết quả học tập, lao động cải tạo và kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân đó. Trên thực tế, quy định này còn bộc lộ một số bất cập, cụ thể:
Kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của phạm nhân đã hàm chứa trong đó kết quả thực hiện nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo và kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Điều này được minh chứng rõ bởi các quy định tại Mục 4 của Nghị định số 118/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi hành án hình sự (Nghị định số 118/2024) về tiêu chuẩn xếp loại chấp hành án phạt tù của phạm nhân. Cụ thể:
Điều 19 Nghị định này quy định 04 nhóm tiêu chuẩn thi đua xếp loại chấp hành án phạt tù, trong đó có các tiêu chuẩn: “Tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra”; “nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án và nội quy, quy định của cơ sở giam giữ phạm nhân”; “tích cực, tự giác, gương mẫu trong lao động, học nghề, tham gia đầy đủ ngày công, lao động có kỷ luật, có năng suất, chất lượng, hoàn thành chỉ tiêu, định mức lao động; thực hiện tốt yêu cầu an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường; có ý thức tham gia thúc đẩy phong trào thi đua trong phạm nhân”… Các điều 20, 21, 22, 23 Nghị định số 118/2024 quy định cụ thể kết quả thực hiện các tiêu chuẩn xếp loại thi đua tại Điều 19 Nghị định này tương ứng với các mức xếp loại chấp hành án phạt tù loại tốt, khá, trung bình, kém. Theo nội dung các quy định nêu trên thì cơ sở giam giữ phạm nhân căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của mỗi phạm nhân (tương ứng với căn cứ thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật THAHS năm 2019) để thực hiện nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân đó. Kết quả phạm nhân thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù tương ứng với tiêu chuẩn xếp loại chấp hành án phạt tù ở mức nào theo quy định của Nghị định số 118/2024 thì phạm nhân đó được xếp loại chấp hành án phạt tù ở mức đó. Cơ sở giam giữ phạm nhân không phải xem xét, đánh giá thêm một lần nữa đối với kết quả thực hiện nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo và kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, trừ trường hợp phạm nhân lập công theo Điều 24 Nghị định này.
Theo đó, phạm nhân thuộc một trong các trường hợp lập công thuộc khoản 1 Điều 24 Nghị định số 118/2024 được điều chỉnh nâng lên một mức xếp loại đối với 04 quý liên tiếp kể từ ngày Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân ký quyết định khen thưởng hoặc kể từ ngày nhận được quyết định khen thưởng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc lập công. Nếu trong 04 quý đó, phạm nhân đã được xếp loại tốt thì được tính để xếp loại cho 04 quý sau. Trường hợp sau khi lập công mà phạm nhân bị xử lý kỷ luật hoặc phạm tội mới thì không được nâng mức xếp loại. Ngoài ra, khoản 2 Điều 24 Nghị định này còn quy định trường hợp người lập công trong thời gian đã có quyết định thi hành án phạt tù nhưng chưa được đưa đến cơ sở giam giữ phạm nhân để chấp hành án thì cũng được coi là lập công trong thời gian chấp hành án phạt tù và được xem xét, xếp loại như đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định này.
Có thể thấy rằng, các trường hợp lập công nêu trên là trường hợp phạm nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập, lao động cải tạo, không chỉ trong thời gian chấp hành án mà còn ở giai đoạn sớm hơn. Mặc dù vậy, việc lập công không đồng nghĩa với việc phạm nhân đương nhiên được nâng lên một mức xếp loại chấp hành án trong các kỳ xếp loại chấp hành án được xác định. Theo Điều 24 Nghị định số 118/2024, việc xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân lập công căn cứ vào kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của phạm nhân và kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân sau khi lập công.
Mặt khác, “kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra” chỉ được quy định là một trong các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù được liệt kê tại khoản 2 Điều 19 và được quy định cụ thể tại các điều 20, 21 Nghị định số 118/2024. Theo đó, phạm nhân đạt tiêu chuẩn về “kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra” và các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án khác ở mức nào thì trong kỳ xếp loại, phạm nhân được xem xét, xếp loại chấp hành án phạt tù tương ứng với loại tốt, khá, trung bình, kém.
Do đó, quy định về “kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra” tại khoản 2 Điều 35 Luật THAHS năm 2019 là không cần thiết, có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn thi hành.
Hai là, hạn chế trong quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 118/2024 về kết quả thực hiện tiêu chuẩn “tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra” đối với trường hợp phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.
Theo Điều 20 Nghị định số 118/2024, phạm nhân được xếp loại chấp hành án loại “tốt” khi thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù quy định tại Điều 19 Nghị định này. Trong đó, đối với tiêu chuẩn “tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra” được hiểu là: Phạm nhân đã thực hiện xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác, nộp án phí theo bản án, quyết định của Tòa án, hoặc chưa thực hiện xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác, nộp án phí nhưng thuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định này thì được coi là đã thực hiện đầy đủ việc tích cực khắc phục hậu quả, trong đó có trường hợp: “Phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thì những người đó đã thực hiện xong hoặc phạm nhân đó đã nhiều lần viết thư, liên lạc bằng điện thoại hoặc trực tiếp đề nghị, vận động bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện bồi thường thiệt hại nhưng mới thực hiện được một phần”. Quy định này điều chỉnh cả đối tượng phạm nhân là người đã thành niên và phạm nhân là người chưa thành niên, với điểm chung là người thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi.
Ví dụ: A là phạm nhân dưới 18 tuổi (không có tài sản riêng) bị kết án về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tòa án quyết định giao cho ông B (bố của A) trách nhiệm bồi thường thiệt hại với số tiền 50.000.000 đồng. Theo điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 118/2024, A được xếp loại chấp hành án loại “tốt” khi thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù quy định tại Điều 19 Nghị định này. Nếu trong kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù của A, ông B đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại hoặc A đã nhiều lần viết thư, liên lạc bằng điện thoại hoặc trực tiếp đề nghị, vận động và ông B đã thực hiện bồi thường một phần, thì A được coi là đã “tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra”. Nếu ông B vẫn không thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mặc dù A đã nhiều lần đề nghị, vận động thì A cũng không thuộc một trong các trường hợp được coi là đã tích cực khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 118/2024, nên không đủ tiêu chuẩn để được xếp loại chấp hành án loại “tốt”. Ngoài ra, đối chiếu với Điều 21 Nghị định số 118/2024, thì A không đủ tiêu chuẩn để được xếp loại chấp hành án phạt tù loại “khá”. Như vậy, kết quả việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của ông B ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù của A.
Có thể thấy rằng, việc Nghị định số 118/2024 có quy định cụ thể về tiêu chí xác định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù đối với trường hợp “phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp” đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn xử lý đối với người phạm tội. Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội không đương nhiên gắn liền với việc người đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra. Bởi lẽ, điều này còn phụ thuộc vào năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp người chưa thành niên phạm tội gây thiệt hại, Tòa án căn cứ vào tình trạng tài sản của người đó và quy định của pháp luật dân sự mà quyết định giao cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội thì trách nhiệm đó thuộc về bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người đó. Do vậy, việc quy định kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù của phạm nhân, đặc biệt là phạm nhân là người dưới 18 tuổi trong trường hợp quy định tại Điều 20 Nghị định số 118/2024 là chưa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, quy định này còn chưa phù hợp với tinh thần bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, nguyên tắc bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; chưa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật THAHS năm 2019.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
Để đảm bảo tính thống nhất trong các quy định liên quan đến căn cứ xếp loại chấp hành án đối với phạm nhân, tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, góp phần đảm bảo hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, đồng thời, đảm bảo quyền lợi chính đáng của phạm nhân trong việc thực hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam, khuyến khích họ cải tạo tốt, sớm được tái hòa nhập cộng đồng, tác giả đề xuất như sau:
Thứ nhất, cần sửa đổi nội dung quy định về việc xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân tại Mục 4 Nghị định số 118/2024 có liên quan kết quả thực hiện tiêu chuẩn “tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra” đối với trường hợp phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp như sau:
(1) Sửa đổi khoản 1 Điều 20 Nghị định này theo hướng: “Phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp mà phạm nhân đã nhiều lần viết thư, liên lạc bằng điện thoại hoặc trực tiếp đề nghị, vận động bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện bồi thường thiệt hại; đồng thời cam kết dùng tài sản riêng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra khi có điều kiện, có xác nhận của Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân. Trong thời gian chờ giải quyết mà phạm nhân chưa đủ 18 tuổi thì phạm nhân được coi là tích cực khắc phục hậu quả”.
(2) Bổ sung nội dung quy định tại Điều 21 Nghị định này, cụ thể: “Phạm nhân khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi mà Tòa án quyết định giao trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác cho bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp mà phạm nhân đó đã nhiều lần viết thư, liên lạc bằng điện thoại hoặc trực tiếp đề nghị, vận động bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện bồi thường thiệt hại. Trong thời gian chờ giải quyết mà phạm nhân chưa đủ 18 tuổi thì phạm nhân được coi là tích cực khắc phục hậu quả”.
Thứ hai, sửa đổi khoản 2 Điều 35 Luật THAHS năm 2019 theo hướng bỏ cụm từ “kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra”; đồng thời, bổ sung cụm từ “thành tích đặc biệt xuất sắc” vào điều khoản này để bao hàm được nội dung thể hiện việc phạm nhân lập công cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù của phạm nhân, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, logic trong nội dung điều luật. Cụ thể: …“2. Căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập, lao động cải tạo để nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một trong các mức tốt, khá, trung bình, kém”.
Trần Thị Huyền