Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố, kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Ngày đăng : 10:31, 30/06/2026
1. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Không khởi tố vụ án hình sự là kết quả của việc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo của công dân; kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức..., xác định sự việc không có dấu hiệu tội phạm, hành vi vi phạm không cấu thành tội phạm, không truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là quyết định pháp lý chính thức để kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (nguồn tin về tội phạm) qua đó kết thúc toàn bộ quá trình tố tụng hình sự đối với vụ việc. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ được ban hành khi có căn cứ pháp luật rõ ràng[1], điều này bảo đảm rằng quyền lực nhà nước không bị lạm dụng, bảo vệ các cá nhân khỏi nguy cơ bị xử lý hình sự không có căn cứ, tránh việc hình sự hóa các quan hệ dân sự, hành chính, qua đó bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự. Việc ban hành quyết định không khởi tố vụ án không chỉ là một thủ tục pháp lý, mà còn là điểm nút mang tính bước ngoặt, có tính định hướng toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Hơn nữa đây còn là một hoạt động mang tính chất pháp lý, nghiệp vụ và chính trị sâu sắc để bảo đảm công lý, công bằng và nhân đạo trong hoạt động tư pháp. Bên cạnh đó, người bị tố giác hoặc kiến nghị khởi tố sẽ không bị coi là tội phạm và không bị xử lý hình sự nếu đã có quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền khác của họ theo quy định của pháp luật, đồng thời là cơ sở để cá nhân, tổ chức yêu cầu khôi phục quyền lợi, khiếu nại hoặc yêu cầu bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.
Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm các kết quả giải quyết nguồn tin tội phạm đều có căn cứ pháp lý, dựa trên chứng cứ rõ ràng và đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra việc bỏ lọt tội phạm hoặc lợi dụng quyền lực để bao che, dung túng sai phạm. Hoạt động này còn thể hiện quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi tắt là CQĐT) và Viện kiểm sát, góp phần định hướng, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm cũng như thúc đẩy trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền điều tra trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Thực hiện tốt chức năng THQCT, kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện vị thế, vị trí, khẳng định vai trò quan trọng của ngành Kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong thực thi pháp luật, thể hiện rõ nguyên tắc “chỉ có Viện kiểm sát mới là cơ quan phát động công tố quyền một cách độc lập, có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền”[2].
2. Về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát các cấp trong thời gian qua
Kiểm sát viên các cấp đã thực hiện quyền công tố sớm hơn, chủ động hơn, sâu sát, toàn diện hơn nên phần lớn vụ việc đã được CQĐT nhanh chóng tổ chức xác minh, phân loại xử lý đúng pháp luật. Hoạt động kiểm sát việc kiểm tra, xác minh của CQĐT được tăng cường; việc thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền điều tra được kiểm sát chặt chẽ; các tài liệu, chứng cứ được nghiên cứu, đánh giá toàn diện. Viện kiểm sát các cấp đã kiên quyết yêu cầu hoặc trực tiếp hủy bỏ các quyết định tố tụng thiếu căn cứ, trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra, phát hiện kịp thời các thiếu sót, vi phạm trong hoạt động điều tra để kiến nghị yêu cầu khắc phục. Vì vậy, chất lượng THQCT, kiểm sát việc ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự ngày càng được nâng lên rõ rệt, góp phần quan trọng trong việc chống bỏ lọt tội phạm. Đây là tiền đề quan trọng bảo đảm tội phạm hình sự xảy ra đều được phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, không để xảy ra vi phạm tố tụng nghiêm trọng, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp để xảy ra oan sai, phải xem xét bồi thường theo quy định và chủ động ngăn ngừa tình trạng ban hành các quy định không khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tư pháp. Nhiều đơn vị đã yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo tất cả các trường hợp không khởi tố vụ án hình sự, trong đó có những đơn vị yêu cầu báo cáo trước khi ban hành quyết định để kiểm tra căn cứ không khởi tố vụ án.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác THQCT, kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân còn một số tồn tại, hạn chế như:
Thứ nhất, việc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền điều tra trong giải quyết nguồn tin về tội phạm có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ dẫn đến việc CQĐT chậm chuyển thông báo về việc tiếp nhận, hồ sơ và tài liệu ban đầu; còn để xảy ra trường hợp đưa các tranh chấp dân sự vào thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, chưa phân biệt rõ căn cứ “không có sự việc phạm tội” và “hành vi không cấu thành tội phạm”...
Thứ hai, hoạt động trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm còn chưa thường xuyên nên chưa phát hiện đầy đủ các vi phạm của CQĐT. Còn xảy ra tình trạng thiếu kiên quyết, không rút kinh nghiệm kịp thời hoặc chỉ nhắc nhở tại các cuộc họp liên ngành đối với các vi phạm của CQĐT.
Thứ ba, việc phối hợp kiểm tra, xác minh chưa toàn diện dẫn đến còn trường hợp bỏ lọt tội phạm nhất là đối với một số loại án cố ý gây thương tích, tai nạn giao thông hay vi phạm quy định về an toàn lao động.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự chưa hoàn thiện hoặc chưa được hướng dẫn cụ thể dẫn đến những nhận thức, quan điểm không thống nhất như: Thiếu căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thực hiện được việc gặp người bị tố giác hoặc người có liên quan để yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật; chưa có hướng dẫn để giải quyết triệt để các trường hợp phân biệt các căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự (Điều 157), sử dụng kết luận giám định nào nếu kết quả giữa các lần mâu thuẫn nhau (Điều 211)… Bên cạnh đó, còn một số quy định của Bộ luật Hình sự, nhất là phần các tội phạm chưa được hướng dẫn đầy đủ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ, xác định có dấu hiệu tội phạm hay không còn chưa thống nhất, kéo dài thời gian giải quyết cũng như tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm.
Hai là, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng về mức độ và nguy hiểm về tính chất, tạo áp lực không nhỏ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý nguồn tin tội phạm. Một số vụ việc mới phát sinh, thực chất là hình thức biến tướng của tội phạm được thực hiện với phương thức, thủ đoạn vô cùng tinh vi nhưng chưa được pháp luật hình sự điều chỉnh dẫn đến thiếu thống nhất về quan điểm xử lý giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Ba là, còn tình trạng một số tổ chức, cá nhân lợi dụng cơ quan tố tụng để gửi đơn tố giác giải quyết việc dân sự như đòi nợ, thanh toán hợp đồng; bị hại không hợp tác, cố ý không có mặt theo giấy triệu tập; nhiều vụ việc xâm hại tình dục tố giác muộn nên không thu thập được dấu vết.
Bốn là, một số vụ việc phối hợp kiểm tra, xác minh ban đầu chưa toàn diện, đầy đủ, để xảy ra vi phạm, thiếu sót dẫn đến không xác định được sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không nên không đủ căn cứ khởi tố vụ án, điển hình là thiếu sót không phát hiện, ghi nhận đầy đủ các dấu vết để xác định nguyên nhân tử vong, nguyên nhân tai nạn, cháy nổ; chậm trễ trong việc thu thập dấu vết xác định dấu hiệu xâm hại tình dục, dấu vết thương tích nên không đủ căn cứ xác định nếu chỉ xem xét hồ sơ, bệnh án…
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Một là, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quy định liên quan đến kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, chặt chẽ; hướng dẫn kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Theo đó, tập trung sớm hoàn thiện một số nội dung như: Bổ sung căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thực hiện được việc gặp người bị tố giác hoặc người có liên quan để yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật; quy định rõ thời hạn CQĐT phải bổ sung tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát để kiểm sát quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án; ban hành hướng dẫn cụ thể để phân biệt rõ các căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025; hướng dẫn việc sử dụng kết luận giám định trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ của từng vụ việc cụ thể nếu kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định có mâu thuẫn…
Hai là, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần chủ động, quyết liệt, linh hoạt trong quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ THQCT, kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm; quản lý chặt chẽ, bám sát tình hình tội phạm phát sinh, thường xuyên trao đổi với CQĐT cùng cấp; phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành sơ kết, tổng kết thực tiễn nhằm rút ra những kinh nghiệm hay, phổ biến, nhân rộng những phương pháp làm hiệu quả góp phần hạn chế mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, tăng cường chỉ đạo kiểm tra Viện kiểm sát cấp dưới trong việc ban hành quyết định không khởi tố vụ án.
Ba là, Kiểm sát viên cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác THQCT và kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự, không được xem nhẹ hơn công tác THQCT, kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự. Cần tích cực nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật và nghiệp vụ, tiếp tục thực hiện chủ trương “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” ngay từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, tăng cường trực tiếp kiểm sát để bảo đảm tiếp cận trực tiếp chứng cứ, dấu vết ban đầu.
Bốn là, đổi mới phương pháp kiểm sát, nâng cao chất lượng yêu cầu kiểm tra, xác minh, chất lượng kiểm tra, đánh giá chứng cứ của Kiểm sát viên. Tích cực nghiên cứu, trao đổi với Điều tra viên, chủ động đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ hoặc thực hiện một số hoạt động độc lập khi cần thiết, nhất là trong các trường hợp hai cơ quan có quan điểm khác nhau. Trong đó, đối với một số loại vụ việc cụ thể cần lưu ý: (1) Đối với các tin báo về giết người, cố ý gây thương tích, phải xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, tính chất hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm, động cơ gây án, tương quan lực lượng, nhân thân người phạm tội và các yếu tố khác để đánh giá chính xác mục đích phạm tội. Đối với trường hợp chết người không rõ nguyên nhân mà trên cơ thể bị hại có dấu vết thương tích cần yêu cầu CQĐT trưng cầu giám định xác định rõ đặc điểm từng thương tích, cơ chế hình thành thương tích, thời gian hình thành thương tích, cần làm rõ với thương tích đó nạn nhân có thể sinh hoạt bình thường hay không, sinh hoạt bình thường được trong thời gian bao lâu… để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không; (2) Đối với các vụ tai nạn giao thông, phải xem xét lỗi của từng phía, qua đó xác định đâu là lỗi trực tiếp dẫn đến tai nạn. Tránh việc chỉ chú trọng vào dấu vết tại hiện trường, trên phương tiện mà không thu thập, đánh giá trong mối liên hệ với lời khai và các chứng cứ khác. Ví dụ: Chỉ từ đặc điểm dấu vết trầy xước trên thân xe ô tô theo hướng từ trước ra sau mà nhận định lỗi do xe ô tô vượt lên không đảm bảo an toàn gây tai nạn, trong khi trên thực tế dấu vết này do xe mô tô va chạm vào xe ô tô nên bị trượt lại phía sau. Đối với các tin báo “giao xe cho người không đủ điều kiện” hoặc “cản trở giao thông đường bộ” cần phải xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi giao xe, hành vi cản trở với hậu quả của vụ tai nạn, ví dụ: Tuy có vật cản trở giao thông nhưng nguyên nhân chính gây tai nạn là do nạn nhân chạy lấn sang phần đường ngược chiều va chạm vào vật cản…
Năm là, đối với các nguồn tin về tội phạm đang tạm đình chỉ, việc giải quyết cần phải lập danh sách theo dõi thời hạn, thời hiệu, đôn đốc xác minh, kịp thời phục hồi giải quyết khi có căn cứ, không để xảy ra trường hợp không có hoạt động kiểm sát khi tạm đình chỉ. Đối với các vụ việc tạm đình chỉ vì lý do khác hoặc bị thất lạc hồ sơ, phải chủ động phối hợp liên ngành khẩn trương rà soát, kiểm tra đánh giá lại các tài liệu chứng cứ và căn cứ áp dụng; truy tìm, phục hồi các hồ sơ tài liệu để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trần Đình Hải - Nguyễn Thị Thùy Dương
[1] Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025.
[2] Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật- Những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.53.