Giới hạn xét xử sơ thẩm: Từ góc độ trách nhiệm chứng minh tội phạm theo nguyên tắc suy đoán vô tội
Ngày đăng : 09:37, 25/06/2026
1. Giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
Khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (gọi tắt là BLTTHS năm 2015) quy định: “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Truy tố của Viện kiểm sát và quyết định đưa ra xét xử của Tòa án là căn cứ để xác định giới hạn xét xử. Chỉ có những bị cáo và hành vi đã bị truy tố và bị đưa ra xét xử thuộc phạm vi xét xử phiên tòa hình sự. Nếu bị can hoặc hành vi của bị can chỉ bị Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án không đưa ra xét xử thì không thuộc phạm vi xét xử tại phiên tòa. Tòa án có thể không đưa ra xét xử đối với các bị can và hành vi thuộc trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hoặc đối với bị can (Điều 281, 282 BLTTHS năm 2015).
Quy định về giới hạn xét xử còn bao gồm các trường hợp Tòa án xét xử bị cáo về hành vi khác so với truy tố của Viện kiểm sát về khung hình phạt hoặc tội danh (các khoản 2, 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015). Cụ thể, Tòa án được xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Trong trường hợp Tòa án xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố thì phải ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử[1]. Việc xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn so với truy tố của Viện kiểm sát cần phải bảo đảm không xét xử thêm hành vi mới chưa bị truy tố[2].
Tòa án cũng có thẩm quyền xét xử bị cáo về tội danh khác so với tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đây là trường hợp mà cùng một hành vi khách quan nhưng Viện kiểm sát truy tố về một tội danh và Tòa án xét xử về tội danh khác nhẹ hơn, bằng hoặc nặng hơn. Theo khoản 2 Điều 298 BLTTHS năm 2015, khi Tòa án xét xử bị cáo về tội danh bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố thì việc xét xử thực hiện theo thủ tục chung. Ngược lại, khi xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết (khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015). Nếu Viện kiểm sát quyết định truy tố lại theo tội danh nặng hơn thì việc xét xử tiến hành theo quy định chung. Ngược lại, Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã quy định giới hạn xét xử theo chủ thể và hành vi[3]. Quyết định truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định giới hạn về chủ thể và hành vi bị xét xử tại phiên tòa. Trong đó, quy định tại khoản 3 Điều 298 được đánh giá phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và tinh thần cải cách tư pháp, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử và tranh tụng tai phiên tòa[4]. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015 không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng (Điều 26 BLTTHS năm 2015), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa (Điều 16 BLTTHS năm 2015), nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015), xung đột với chế định không được làm xấu đi tình trạng của người bị buộc tội[5]. Việc Tòa án xét xử ngoài giới hạn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng có khả năng ảnh hưởng đến một số quyền cơ bản của bị cáo[6].
2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm theo nguyên tắc suy đoán vô tội và giới hạn xét xử
Ở Việt Nam, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận từ rất sớm[7] và tên gọi nguyên tắc “suy đoán vô tội” đã được ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015 (Điều 13).
Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Người bị tình nghi, người bị buộc tội có quyền nhưng không bị buộc phải chứng minh mình vô tội. Ở giai đoạn xét xử, Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa sẽ đại diện Viện kiểm sát có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát sẽ xác định số lượng bị can, số lượng hành vi và mức độ nghiêm trọng của hành vi (thể hiện qua tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét xử) bị truy tố[8]. Sau khi xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điều 319, Điều 325 BLTTHS năm 2015). Như vậy, hoạt động chứng minh tội phạm của Kiểm sát viên giới hạn bởi quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nói cách khác, tại phiên tòa, Kiểm sát viên không có thẩm quyền kết luận về tội danh nặng hơn hoặc khoản nặng hơn so với quyết định truy tố.
Khi Tòa án xét xử bị cáo về khoản bằng, nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật hoặc tội danh khác bằng, nhẹ hơn so với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, thì trách nhiệm chứng minh tội phạm tại phiên tòa áp dụng theo quy định chung. Theo đó, Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh tội phạm theo giới hạn của quyết định truy tố. Thông qua hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án kết luận bị cáo về cùng tội danh với Viện kiểm sát truy tố (cùng khoản hoặc khoản nhẹ hơn truy tố) hoặc tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn truy tố hoặc thậm chí là tuyên bị cáo vô tội.
Ngược lại, khi Tòa án xét xử bị cáo về khoản khác nặng hơn khoản Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc tội khác nặng hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố, thì trách nhiệm chứng minh tội phạm tại phiên tòa sẽ có sự khác biệt nhất định. Để kết tội bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, các tình tiết chứng minh hành vi của bị cáo “nguy hiểm” hơn phải được làm sáng tỏ tại phiên tòa, do bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa (Điều 26 BLTTHS năm 2015). Đối với các tình tiết này, Tòa án có trách nhiệm chứng minh (Điều 15 BLTTHS năm 2015). Trong quá trình xét xử, Tòa án cũng có thể xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định tại Điều 252 BLTTHS năm 2015. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì Kiểm sát viên (đại diện cho bên buộc tội) có trách nhiệm chứng minh tội phạm tại phiên tòa. Do bị giới hạn bởi quyết định truy tố nên Kiểm sát viên không chứng minh tội phạm trong trường hợp Tòa án đang xét xử vượt quá giới hạn của truy tố. Như vậy, theo tác giả trách nhiệm chứng minh tội phạm trong trường hợp Tòa án xét xử vượt quá giới hạn của truy tố không phù hợp nguyên tắc suy đoán vô tội. Nguyên tắc này đòi hỏi trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội, trong khi đó Tòa án thực hiện chức năng xét xử. Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự được thực hiện dựa trên cơ sở phát động quyền buộc tội nhân danh Nhà nước; chỉ thực hiện được khi có sự hiện diện của bên buộc tội và bào chữa[9]. Thông qua các hoạt động tố tụng tại phiên tòa, bên buộc tội phải đưa ra chứng cứ để chứng minh hành vi của bị cáo đã phạm vào tội đã bị truy tố. Toà án chỉ đóng vai trò trọng tài xem xét và phán quyết dựa trên đánh giá quan điểm buộc tội và gỡ tội chứ không tham gia vào bất cứ bên nào[10]. Khi Tòa án xét xử bị cáo về khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn so với truy tố thì Tòa án vừa thực hiện chức năng buộc tội và vừa thực hiện chức năng xét xử.
Tòa án có thể xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ (Điều 252 BLTTHS năm 2015), tuy nhiên, do đặc thù của cơ quan xét xử và thời điểm tiếp cận hồ sơ vụ án muộn nên các hoạt động thu thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án cũng mang tính bị động. Điều 15 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 đã giới hạn hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi xét xử vụ án hình sự so với BLTTHS năm 2015; theo đó, hoạt động xét xử của Tòa án dựa trên chứng cứ do Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp. Trên cơ sở chứng cứ được cung cấp, Tòa án tiến hành kiểm tra, thẩm định tính xác thực của chứng cứ, làm rõ tại phiên tòa và kết quả tranh tụng để giải quyết vụ án. Có thể thấy, theo tiến trình cải cách tư pháp, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án càng thu hẹp hơn nhằm bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng xét xử.
Về trình tự, thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét hỏi bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng và người khác để làm sáng tỏ tình tiết vụ án (Điều 307 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, hoạt động này chưa thể giải quyết triệt để các vấn đề còn mâu thuẫn. Trong trường hợp Tòa án xét xử bị cáo về khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn Viện kiểm sát đã truy tố, thì rõ ràng giữa Tòa án và Viện kiểm sát không đồng quan điểm về mức độ nguy hiểm của hành vi, chỉ có thể làm sáng tỏ thông qua phần tranh luận tại phiên tòa. Tuy nhiên, phần tranh luận lại diễn ra chủ yếu giữa bên buộc tội (Kiểm sát viên đại diện) và bên bào chữa (người bào chữa, bị cáo, người đại diện của bị cáo) và có thể có sự tham gia của bên bị hại, đương sự (và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ). Trong khi đó, Hội đồng xét xử không tham gia tranh luận, chỉ có Thẩm phán chủ tọa phiên tòa điều khiển quá trình này (Điều 322 BLTTHS năm 2015). Khi tranh luận, Kiểm sát viên bị giới hạn bởi truy tố của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên có thể giữ nguyên quan điểm truy tố, rút một phần hoặc toàn bộ truy tố, hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Người bào chữa cũng không tranh luận gây bất lợi cho bị cáo, do người bào chữa có nghĩa vụ “sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (điểm a khoản 2 Điều 73 BLTTHS năm 2015). Trong một số trường hợp, bị hại, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có thể tranh luận về việc hành vi của bị cáo thuộc khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn. Tuy nhiên, các trường hợp này không mang tính đại diện và nhóm chủ thể này cũng không thực hiện chức năng buộc tội. Như vậy, tại phần tranh luận, tình tiết chứng minh hành vi của bị cáo thuộc khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn truy tố không được làm rõ. Nếu sau khi nghị án, Tòa án tuyên bị cáo phạm tội theo khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn truy tố sẽ không bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng. Đồng thời, việc chứng minh hành vi của bị cáo theo khoản hoặc tội nặng hơn cũng chưa được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định theo yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015).
3. Kiến nghị, đề xuất
Trách nhiệm chứng minh tội phạm theo nguyên tắc suy đoán vô tội và giới hạn xét xử có mối quan hệ mật thiết với nhau trong tố tụng hình sự. Truy tố của Viện kiểm sát là cơ sở để xác định giới hạn xét xử của Tòa án và cũng là giới hạn cho hoạt động chứng minh tội phạm của Kiểm sát viên (đại diện cho Viện kiểm sát) tại phiên tòa sơ thẩm. Tòa án đóng vai trò trọng tài, điều khiển, thẩm định quá trình chứng minh của các bên và ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ giữa các bên[11]. Vì vậy, quy định của BLTTHS năm 2015 về việc Tòa án được xét xử bị cáo về khoản nặng hơn hoặc tội danh nặng hơn truy tố chưa phù hợp với trách nhiệm chứng minh tội phạm theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Mặt khác, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 đã giới hạn lại hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án khi xét xử vụ án hình sự. Vì vậy, theo tác giả cần sửa đổi Điều 298 BLTTHS năm 2015 về giới hạn xét xử, trong đó, cần xác định truy tố của Viện kiểm sát là cơ sở để xác định giới hạn xét xử. Tòa án không được xét xử vượt quá giới hạn truy tố của Viện kiểm sát. Quy định này không những phù hợp với quy định về trách nhiệm chứng minh tội phạm của bên buộc tội mà còn đảm bảo các chủ thể thực hiện đúng chức năng trong tố tụng hình sự.
Trần Hồng Ca
----------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2018, tr.179.
2. Nguyễn Ngọc Chí (2024), Tư pháp hình sự và tố tụng hình sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn mới, yêu cầu mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 659.
3. Lê Lan Chi, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Suy đoán vô tội, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2021, tr.505.
4. Lê Tiến Châu, Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2009, tr.43.
5. Mai Thanh Hiếu, Giới hạn xét xử sơ thẩm theo truy tố, Tạp chí Luật học, số 03, 2017, tr.18 - 27.
6. Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh, Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: từ góc độ quyền được xét xử công bằng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2021, tr.33-41.
7. Vũ Gia Lâm, Về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2016, tr.40-46.
8. Nguyễn Thái Phúc, Cần sửa đổi và hoàn thiện Điều 298 - Về giới hạn xét xử trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 2/2020.
9. Hoàng Anh Tuyên, Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự - một số kiến nghị hoàn thiện BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 16/2023, tr.22-29.
10. Nguyễn Văn Thuân, Quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 07/2016.
11. Đào Trí Úc, Suy đoán vô tội – nguyên tắc hiến định quan trọng trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, trong Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn mới, yêu cầu mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 684.
[1] Theo hướng dẫn tại Mục 2 Phần II Giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Mai Thanh Hiếu, Giới hạn xét xử sơ thẩm theo truy tố, Tạp chí Luật học, số 03/2017, tr.18 - 27.
[3] Mai Thanh Hiếu, tlđd, tr.18 - 27.
[4] Nguyễn Văn Thuân, Quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 07/2016.
[5] Nguyễn Thái Phúc, Cần sửa đổi và hoàn thiện Điều 298 – Về giới hạn xét xử trong BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 02/2020.
[6] Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh, Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Từ góc độ quyền được xét xử công bằng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2021, tr.33-41.
[7] Lê Lan Chi, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Suy đoán vô tội, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2021, tr.505.
[8] Điều 243 BLTTHS năm 2015.
[9] Lê Tiến Châu, Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2009, tr.43.
[10] Nguyễn Ngọc Chí (2024), Tư pháp hình sự và tố tụng hình sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn mới, yêu cầu mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr.659.
[11] Nguyễn Ngọc Chí (2024), tlđd, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr.673.