Quy định mới về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc
Ngày đăng : 10:27, 12/06/2026
Nghị định quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện việc tiêm thuốc độc; quản lý, sử dụng thuốc, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ thi hành án; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, bảo đảm việc tổ chức thi hành án tử hình được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, chặt chẽ, an toàn, đúng quy định pháp luật.
![]() |
|
Ảnh minh họa. |
Quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục thực hiện tiêm thuốc độc
Theo Nghị định số 203/2026/NĐ-CP, việc thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc phải được thực hiện đúng quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025, các quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan.
Trước khi tiến hành tiêm thuốc độc, Hội đồng thi hành án tử hình có trách nhiệm kiểm tra, mở niêm phong thuốc sử dụng cho thi hành án và lập biên bản theo quy định. Người bị thi hành án tử hình được cố định trên giường ở tư thế nằm ngửa, bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quy trình thi hành án.
Cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình thực hiện việc tiêm thuốc độc theo quy trình gồm các bước cơ bản: Tiếp nhận thuốc từ Hội đồng thi hành án tử hình; xác định tĩnh mạch của người bị thi hành án; tiến hành tiêm thuốc theo từng giai đoạn.
Trường hợp không xác định được tĩnh mạch, cán bộ trực tiếp thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu cán bộ y tế hỗ trợ xác định vị trí tiêm.
Quá trình tiêm thuốc được thực hiện theo ba bước, gồm: tiêm thuốc làm mất tri giác; tiêm thuốc làm liệt hệ vận động; tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
Sau khi hoàn thành các bước tiêm, cán bộ chuyên môn tiến hành kiểm tra hoạt động tim thông qua thiết bị theo dõi điện tim. Trường hợp sau 10 phút kể từ khi tiêm xong liều thuốc thứ nhất mà người bị thi hành án chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để quyết định sử dụng liều thuốc tiếp theo.
Nghị định quy định thuốc phục vụ thi hành án gồm ba liều, trong đó có hai liều dự phòng. Việc sử dụng các liều thuốc tiếp theo phải tuân theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình.
Nếu sau khi sử dụng hết liều thuốc thứ ba mà người bị thi hành án vẫn chưa chết, Đội trưởng Đội Thi hành án tử hình phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình quyết định tạm dừng việc thi hành án.
Việc thực hiện các bước tiêm thuốc có thể tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu bảo đảm an toàn trong quá trình tổ chức thi hành án.
Sau khi hoàn tất việc tiêm thuốc, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người bị thi hành án và báo cáo kết quả.
Chỉ sau khi có kết luận của bác sĩ pháp y về việc người bị thi hành án đã chết, cán bộ thi hành án mới thực hiện việc rút kim tiêm, đường ống dẫn; Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định.
Đối với thuốc dự phòng chưa sử dụng, cán bộ thi hành án có trách nhiệm bàn giao để bảo quản theo quy định.
Bảo đảm trách nhiệm quản lý, chế độ đối với các chủ thể liên quan
Bên cạnh quy định về trình tự thực hiện tiêm thuốc độc, Nghị định số 203/2026/NĐ-CP quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tổ chức thi hành án tử hình.
Theo đó, trại tạm giam nơi giam giữ người bị kết án tử hình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chế độ đối với người chấp hành án tử hình trước khi thi hành án. Người chấp hành án tử hình được bảo đảm chế độ ăn, uống theo quy định; được viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình.
Trại tạm giam cũng có trách nhiệm bàn giao cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án tử hình các giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền mà người bị thi hành án gửi lại trong thời gian bị giam giữ (nếu có), cùng hồ sơ liên quan theo quy định.
Việc quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị nhằm bảo đảm quá trình thi hành án tử hình được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật, đồng thời thể hiện yêu cầu quản lý chặt chẽ, nhân đạo và tôn trọng các quy định về quyền con người trong hoạt động thi hành án hình sự.
Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định hình thức và trình tự thi hành án tử hình, cụ thể:
1. Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
4. Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;
c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tử hình;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho gia đình của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
