Hoàn thiện pháp luật về xác định nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ sở của bị đơn
Ngày đăng : 07:44, 12/06/2026
1. Về nơi cư trú của cá nhân
Cách thức xác định nơi cư trú đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật cư trú năm 2020, tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau về nơi cư trú. Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nơi cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống, trong trường hợp không xác định được nơi cư trú theo nơi thường xuyên sinh sống thì đó sẽ là nơi người đó đang sinh sống. Trong khi đó, khoản 1 Điều 11 Luật cư trú năm 2020 quy định nơi cư trú là nơi thường trú, tạm trú. Nếu không xác định được nơi thường trú, nơi tạm trú thì nơi cư trú là nơi ở hiện tại. Ngoài ra, điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án (Nghị quyết số 04/2017) xác định nơi cư trú của công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống được xác định là nơi họ thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống. Có thể thấy rằng khái niệm nơi cư trú được quy định trong các văn bản này không có sự thống nhất.
Theo tác giả, khái niệm về nơi cư trú cần làm rõ được hai yếu tố: (1) Xác định chính xác những địa điểm nào được coi là nơi cư trú, mà không chỉ ghi nhận một cách khái quát và định tính như Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả cho rằng, Luật cư trú năm 2020 quy định nơi cư trú là nơi thường trú, nơi tạm trú là phù hợp; (2) Cần làm rõ thứ tự ưu tiên giữa nơi thường trú và nơi tạm trú để xác định chính xác nơi cư trú duy nhất của cá nhân. Nơi thường trú được hiểu là nơi sinh sống ổn định, lâu dài trong khi nơi tạm trú mang tính chất thời điểm, là nơi cá nhân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định. Nơi tạm trú thường phản ánh sự hiện diện thực tế của bị đơn, đúng tình trạng hiện tại; nơi thường trú lúc này chỉ mang tính chất trên giấy tờ, thực tế bị đơn có thể sẽ không có mặt tại nơi này. Do đó, việc tống đạt giấy tờ hay gửi các thông tin để thông báo cho bị đơn tham gia tố tụng tại nơi tạm trú sẽ thuận lợi hơn so với nơi thường trú; còn nơi một cá nhân đang sinh sống sẽ chỉ được xác định là nơi cư trú nếu không thể xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Do vậy, tác giả kiến nghị bỏ quy định về nơi cư trú tại Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017; đồng thời sửa đổi khoản 1 Điều 11 Luật cư trú năm 2020 như sau: “Nơi cư trú của công dân là nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú. Nếu một cá nhân đăng ký thường trú tại một nơi và đăng ký tạm trú tại một nơi khác thì nơi cư trú được xác định là nơi đăng ký tạm trú. Nếu một cá nhân không có nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.
2. Về xác định nơi cư trú cho người đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù
Đối với trường hợp một cá nhân đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù, cần xác định đây là trường hợp có nơi cư trú riêng biệt tương tự các quy định tại Điều 12 đến Điều 18 Luật cư trú năm 2020. Bởi lẽ các quy định này xác định nơi cư trú của cá nhân trong những trường hợp đặc thù dựa trên nghề nghiệp (người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang; người sinh sống, làm nghề lưu động trên tàu, thuyền hoặc các phương tiện khác có khả năng di chuyển), tình trạng nhân thân (quan hệ vợ chồng, quan hệ giám hộ, quan hệ giữa người chưa thành niên với cha, mẹ; người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp) hoặc các đối tượng liên quan đến cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng nên cần có cơ chế riêng đối với nơi cư trú của những chủ thể này.
Có thể thấy rằng, người đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù là những chủ thể đang trong tình trạng đặc biệt khi bị giới hạn về quyền tự do đi lại, cư trú của mình; do vậy, nơi ở thực tế của họ bị hạn chế tại địa điểm tạm giam, địa điểm chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, theo quy định của Luật cư trú năm 2020 thì nơi cư trú của họ vẫn đang được xác định theo nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú. Khi Tòa án tống đạt các giấy tờ hay thông báo cho các cá nhân này thì vẫn sẽ gửi về nơi cá nhân đó thường trú hoặc tạm trú, trong khi thực tế họ đang ở tại trại giam, trại tạm giam. Điều này có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn khi họ không có khả năng nắm bắt thông tin về vụ án dân sự mà họ là bị đơn, tác động trực tiếp đến quyền tự bảo vệ của mình trong quan hệ tố tụng[1]. Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung quy định về xác định nơi cư trú của người đang bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vào Luật cư trú năm 2020 như sau: “Nơi cư trú của người đang bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam, trại giam là trại tạm giam, trại giam”.
3. Về yêu cầu xác minh nơi cư trú của người bị kiện
Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017 quy định: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện…”. Quy định này cho phép bên cạnh việc xin xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì người khởi kiện có thể dùng các căn cứ khác chứng minh địa chỉ đã ghi đúng là địa chỉ của người bị kiện.
Trên thực tế, một số Tòa án đã yêu cầu người khởi kiện phải xác minh địa chỉ của người bị kiện tại cơ quan Công an xã/phường nơi có địa chỉ cư trú thì mới ra quyết định thụ lý vụ án. Yêu cầu này của Tòa án nhằm bảo đảm sự thuận lợi trong việc liên hệ cũng như tống đạt các giấy tờ, văn bản cho người bị kiện; đồng thời, cũng gây khó khăn cho người khởi kiện khi buộc họ phải thực hiện việc xác minh địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện. Mặt khác, việc người khởi kiện xin xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kiện đang, đã từng cư trú, làm việc hay có trụ sở tại một địa chỉ nhất định cũng gặp khó khăn do vấn đề về bảo mật thông tin cá nhân. Theo khoản 5 Điều 13 Nghị định số 154/2024/NĐ-CP ngày 26/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú năm 2020 thì trừ trường hợp một số cơ quan, tổ chức khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu cư trú để phục vụ hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình hoặc công dân khai thác thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu về cư trú, còn lại nếu một cá nhân, tổ chức muốn khai thác thông tin của cá nhân khác trong Cơ sở dữ liệu về cư trú sẽ phải được sự đồng ý của cơ quan đăng ký cư trú và chủ thể thông tin khai thác/người đại diện hợp pháp của họ. Nếu không thể tự mình xin xác nhận về yếu tố này, người khởi kiện chỉ có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ yêu cầu cơ quan Công an khai thác các thông tin về nơi cư trú của người bị kiện nhằm phục vụ cho hoạt động tố tụng.
Tác giả cho rằng nên bổ sung quy định trách nhiệm xác minh nơi cư trú của người bị kiện cho Tòa án ngay từ đầu vì Tòa án là cơ quan có khả năng thực hiện nội dung này một cách thuận lợi nhất khi phối hợp với cơ quan Công an có thẩm quyền. Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc cấp, xác nhận địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
4. Về khái niệm nơi làm việc của cá nhân
Hiện nay, khái niệm về nơi làm việc chưa được ghi nhận một cách rõ ràng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và các văn bản hướng dẫn liên quan mà chỉ được quy định trong pháp luật lao động. Cụ thể, theo điểm c khoản 1 Điều 21 Bộ luật lao động năm 2019 thì địa điểm làm việc là một nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng lao động. Điểm b khoản 3 Điều 3 Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về nội dung của hợp đồng lao động, hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con, quy định: “Địa điểm làm việc của người lao động: Địa điểm, phạm vi người lao động làm công việc theo thỏa thuận; trường hợp người lao động làm việc có tính chất thường xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau thì ghi đầy đủ các địa điểm đó”.
Việc địa điểm làm việc chỉ được quy định trong pháp luật lao động sẽ phát sinh vấn đề đó là khi nào bị đơn là người lao động và có giao kết hợp đồng lao động thì khi đó địa điểm làm việc mới tồn tại. Trong trường hợp bị đơn có thực hiện công việc nhất định và hai bên chỉ giao kết hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng thương mại thì không có căn cứ để xác định nơi làm việc của bị đơn do pháp luật dân sự và pháp luật thương mại không ghi nhận cụ thể về nội dung này. Nếu bị đơn là người lao động làm việc thường xuyên tại nhiều địa điểm khác nhau thì các địa điểm này cũng được chi tiết hóa trong hợp đồng lao động. Điều này dẫn đến việc nguyên đơn có thể nộp đơn khởi kiện tại một trong các Tòa án tại những địa điểm làm việc này của bị đơn. Phần lớn người lao động được xem là chỉ có một nơi làm việc tại một thời điểm xác định, tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Ví dụ: Các cá nhân làm việc trên các phương tiện lưu động như tiếp viên hàng không, phi công, thủy thủ; những người lao động được doanh nghiệp cho phép làm việc tại nhà hoặc một số cá nhân trong nước thực hiện công việc xuyên biên giới với những người sử dụng lao động ở nước ngoài… Đối với những trường hợp này thì các quốc gia trên thế giới có quan điểm khác nhau. Các Tòa án Hoa Kỳ sẽ phân tích địa điểm làm việc của chính những cá nhân đó về mặt lãnh thổ, Tòa án Công lý của Liên minh Châu Âu sẽ đánh giá về “nơi làm việc ổn định” của cá nhân, còn Tòa án Lao động của Vương quốc Anh sẽ cân nhắc xem địa điểm nào được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với công việc của các cá nhân đó[2].
Có thể thấy rằng, các quy định về pháp luật về lao động cũng không quy định cụ thể cách nhận diện về nơi làm việc của một cá nhân mà chỉ ghi nhận chung chung rằng người lao động làm việc có tính chất thường xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau thì ghi đầy đủ các địa điểm đó[3].
Do đó, theo tác giả, nơi làm việc của cá nhân không chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của hợp đồng lao động mà cần được bổ sung thêm đối với các loại hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại cũng như các trường hợp mà cá nhân thực hiện công việc mà không dựa trên căn cứ là hợp đồng với các chủ thể khác. Nơi làm việc không chỉ gắn với mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, mà có thể là địa điểm thực hiện công việc giữa các chủ thể trong hợp đồng dân sự, giữa các thương nhân trong hợp đồng thương mại hoặc chỉ là hoạt động của chủ thể thực hiện công việc nhằm đáp ứng những mục đích nào đó của chính người đó.
Bên cạnh đó, cần làm rõ nội hàm của khái niệm về “nơi làm việc” để có căn cứ rõ ràng xác định địa điểm. Tham khảo khoản 1 Điều 21 Quy định số 1215/2012 ban hành ngày 12/12/2012 của Nghị viện Châu Âu về thẩm quyền và nhận diện, thực thi phán quyết trong lĩnh vực dân sự, thương mại có ghi nhận rằng người sử dụng lao động có thể bị khởi kiện tại Tòa án nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc[4]. Theo đó, nơi làm việc có thể hiểu là “nơi một cá nhân thường xuyên thực hiện công việc của mình”. Yếu tố “thường xuyên” ở đây dẫn đến cách giải thích về mặt định lượng, đó là địa điểm mà cá nhân đó dành phần lớn thời gian để thực hiện công việc.
Tác giả cho rằng, cần định nghĩa khái niệm về nơi làm việc của cá nhân trong các văn bản pháp luật như sau: “Nơi làm việc là địa điểm mà một cá nhân thường xuyên thực hiện các công việc nhằm phục vụ cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác, được xác định dựa trên bản chất, thời gian thực hiện, tổ chức, sắp xếp và các yếu tố khác liên quan đến công việc đó”.
5. Về thứ tự ưu tiên trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án giữa nơi cư trú, nơi làm việc của cá nhân
Trong số hai địa điểm liên quan đến nhân thân của cá nhân là nơi cư trú và nơi có làm việc thì hiện nay các quy định pháp luật vẫn tồn tại bất cập là chưa xác định được thứ tự ưu tiên giữa các địa điểm này trong trường hợp nơi cư trú và nơi làm việc là hai địa điểm khác nhau và đều được ghi trong đơn khởi kiện. Trong thực tiễn tố tụng, các Tòa án có xu hướng lựa chọn nơi cư trú là địa điểm ưu tiên so với nơi làm việc. Tuy nhiên, điều này cần được ghi nhận cụ thể trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự để có cơ sở pháp lý áp dụng. Theo tác giả, mặc dù nơi cư trú và nơi làm việc của cá nhân đều gắn liền với tính chất nhân thân khi đưa ra những địa điểm mà cá nhân gắn liền với các mối quan hệ trong đời sống hàng ngày nhưng cần thiết phải ưu tiên nơi cư trú so với nơi làm việc. Nơi cư trú đã được Luật cư trú năm 2020 ghi nhận là nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú; đây đều là những địa điểm phải thực hiện thủ tục đăng ký với các cơ quan Công an có thẩm quyền để tiến hành các hoạt động quản lý con người. Nơi cư trú vì vậy sẽ có tính chất xác định một cách rõ ràng hơn, ổn định hơn trong một khoảng thời gian nhất định[5]. Trong khi đó, nơi làm việc hiện nay vẫn chỉ được quy định một cách khá chung chung dựa trên thỏa thuận trong hợp đồng lao động; chưa có các tiêu chí xác định một cách rõ ràng, cụ thể. Đồng thời, một cá nhân có thể thay đổi nhiều công việc, nhưng sẽ có xu hướng ít thay đổi nơi cư trú của mình hơn. Do vậy, tác giả kiến nghị bổ sung quy định về xác định thứ tự ưu tiên giữa nơi cư trú và nơi làm việc của cá nhân như sau: “Trong trường hợp một cá nhân vừa có nơi cư trú và nơi làm việc tại những địa điểm khác nhau, Tòa án nơi cư trú của cá nhân sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự”.
Chu Đăng Chung
---------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Đình Quang Phúc, Trương Thùy Trang (2023), Xác định nơi bị đơn cư trú trong vụ án dân sự đối với người đang bị tạm giam, chấp hành án phạt tù, https://lsvn.vn/xac-dinh-noi-bi-don-cu-tru-trong-vu-an-dan-su-doi-voi-nguoi-dang-bi-tam-giam-chap-hanh-an-phat-tu-16914
32060-a133748.html, truy cập ngày 10/2/2025.
2. Donald C. Dowling (2017), How to know Which Jurisdiction’s Employment Laws reach Border-Crossing Staff: A comprehensive guide to International Choice-of-Employment-Law and -Forum, https://www.littler.com/files/how_to_know_which_jurisdictions_employment_laws_reach_border-crossing_staff.pdf, tr.7, truy cập ngày 30/11/2024.
3. Trần Anh Tuấn, Thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ dưới góc nhìn lịch sử và so sánh, Tạp chí Luật học số 10/2013.
4. https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2012/
1215/oj/eng, truy cập ngày 15/3/2025.
5. https://leglobal.law/2022/07/27/belgium-how-to-find-the-place-where-the-employee-habitually-works/, truy cập ngày 20/3/2025.
[1] Lê Đình Quang Phúc - Trương Thùy Trang (2023), Xác định nơi bị đơn cư trú trong vụ án dân sự đối với người đang bị tạm giam, chấp hành án phạt tù, xem thêm tại https://lsvn.vn/xac-dinh-noi-bi-don-cu-tru-trong-vu-an-dan-su-doi-voi-nguoi-dang-bi-tam-giam-chap-hanh-an-phat-tu-1691432060-a133748.html, truy cập ngày 10/02/2025.
[2] Donald C. Dowling (2017), How to know Which Jurisdiction’s Employment Laws reach Border-Crossing Staff: A comprehensive guide to International Choice-of-Employment-Law and -Forum, xem thêm tại https://www.littler.com/files/how_to_know_which_jurisdictions_employment_laws_reach_border-crossing_staff.pdf, tr.7, truy cập ngày 30/11/2024.
[3] Điểm b khoản 3 Điều 3 Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về nội dung của hợp đồng lao động, hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con.
[4] Xem thêm: https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2012/1215/oj/eng, truy cập ngày 15/3/2025.
[5] Trần Anh Tuấn, Thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ dưới góc nhìn lịch sử và so sánh, Tạp chí Luật học số 10/2013, tr.67.