Những "khoảng trống pháp lý" trong việc xử lý người sau cai nghiện

Ngày đăng : 21:06, 11/05/2026

(Kiemsat.vn) - Qua thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn, VKSND khu vực 2 - thành phố Hà Nội nhận thấy vẫn còn có nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc xử lý hình sự hay xử lý hành chính đối với các đối tượng tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai nghiện bắt buộc tại địa phương dẫn đến những luồng quan điểm trong việc giải quyết đối với các vụ việc phát sinh trên thực tế.

Ngày 25/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung BLHS. Một trong những điểm mới đáng chú ý của BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là quy định về tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a). Nếu như trước đây, quan điểm lập pháp coi người nghiện ma túy là người bệnh, là nạn nhân của tệ nạn xã hội, cần được điều trị thay vì xử lý theo chế tài hình sự. Thì qua thực tiễn nhiều năm gần đây cho thấy số người nghiện ma túy ngày càng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, tỷ lệ tái nghiện ở mức cao. Mặt khác, nghiện ma túy còn là nguyên nhân chính dẫn đến các loại tội phạm khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội dẫn đến yêu cầu cần phải tái hình sự hóa hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Điều 256a BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 (theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, có hiệu lực từ 01/7/2025) quy định:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc, điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;

c) Đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

d) Trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.

Tuy nhiên, qua thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã phát sinh một số vụ việc có liên quan đến việc áp dụng hay không áp dụng các quy định tại điểm b, điểm c Điều 256a BLHS.

Xin nêu một số ví dụ cụ thể sau:

Vụ thứ nhất: Đối tượng Đ.T. V nghiện ma túy Heroine từ năm 2003. Bản thân Đ.T. V có 03 tiền án, 01 tiền sự về các tội trộm cắp tài sản, mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy; có 03 lần đi cai nghiện bắt buộc vào các năm 2009, 2020, 2023. Sau khi cai nghiện và trở về địa phương vào tháng 3/2025, đối tượng không có nơi ở cố định do nhà cũ đã bán, bố mẹ đã mất, không còn người thân tại phường X, thành phố Y. Ngày 24/3/2026, V đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường X phát hiện lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.  Như vậy, V đang trong thời hạn 02 năm quản lý sau cai nghiện ma túy bắt buộc. Tuy nhiên, qua xác minh, UBND phường X, thành phố Y nơi đối tượng V đăng kí hộ khẩu thường trú, UBND phường không nắm được thông tin cũng như không có quyết định quản lý sau cai nghiện đối với Đ.T.V.

Vụ thứ hai: N.V.T đã có 01 tiền sự về cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 20/9/2023 đến 20/3/2025 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, thành phố H. Qua xác minh xác định T sau khi hoàn thành cai nghiện bắt buộc đã không về địa phương trình báo. Mặt khác, UBND xã A nơi T cư trú không nhận được thông báo hoặc bản sao chứng nhận chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, UBND xã A không nắm được thông tin về đối tượng đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc để ra quyết định quản lý sau cai nghiện đối với T. Ngày 25/12/2025, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực vườn hoa phường K, thành phố H và đã bị Công an phường K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, cả 2 trường hợp nêu trên đều có dấu hiệu phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 256a BLHS. Tuy nhiên do chính quyền địa phương không nắm được để đưa V và T vào đối tượng quản lý sau cai nghiện bằng các quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền là chính quyền địa phương nơi các đối tượng cư trú. Điều này đặt ra câu hỏi pháp lý: Có thể xử lý hình sự các đối tượng theo quy định tại Điều 256a BLHS hay không, nếu họ vi phạm trong “thời gian lẽ ra phải bị quản lý sau cai nghiện”?

Quan điểm thứ nhất: Không thể xử lý hình sự.

Hai trong số các nguyên tắc của BLHS là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa “người nào phạm tội do BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Trong trường hợp này: Không có quyết định quản lý sau cai nghiện của cơ quan có thẩm quyền nên không phát sinh nghĩa vụ pháp lý cụ thể mà người đó phải chấp hành. Từ đó, không thể suy đoán rằng họ đang “trong thời gian quản lý sau cai nghiện” để áp dụng các chế tài hình sự. Những vụ việc trên không đủ căn cứ xử lý hình sự vì thiếu yếu tố pháp lý bắt buộc là quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy của UBND xã/phường nơi người đó cư trú.

Hình ảnh minh họa.

Quan điểm thứ hai: Có thể xem xét xử lý hình sự trong một số trường hợp.

Theo Luật Phòng, chống ma túy 2021, người sau cai nghiện có nghĩa vụ trình báo, đăng ký cư trú, chấp hành quản lý sau cai nghiện. Việc không trình báo là hành vi cố ý trốn tránh nghĩa vụ, tạo ra lỗ hổng của pháp luật trong việc quản lý sau cai nghiện trở về địa phương. Do đó, trong một số trường hợp: Nếu đối tượng tiếp tục sử dụng ma túy, gây rối trật tự công cộng hoặc thực hiện hành vi nguy hiểm khác có thể xem xét đánh giá trách nhiệm hình sự trong tổng thể hành vi. Tuy không thể xử lý hình sự trực tiếp, nhưng có thể xem xét trách nhiệm hình sự gián tiếp hoặc trong các hành vi liên quan, đặc biệt khi có dấu hiệu lợi dụng để vi phạm pháp luật.

Quan điểm của tác giả: Tác giả nghiêng về quan điểm thứ nhất vì cho rằng, do trách nhiệm thông báo về việc chấp hành thời hạn quản lý sau cai không chỉ của bản thân người nghiện mà còn là trách nhiệm của các Trung tâm cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 62 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025).

Điều 62. Hết thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Chậm nhất là mười lăm ngày trước khi hết thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm thông báo cho Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định, Công an cấp xã nơi lập hồ sơ, đại diện gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, anh chị em ruột), người đại diện theo pháp luật của người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi biết ngày người cai nghiện hết thời hạn chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc.

2. Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Mẫu số 46 Phụ lục II Nghị định này và gửi bản sao cho Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định, UBND và Công an cấp xã nơi người sau cai nghiện cư trú, đại diện gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, anh chị em ruột), người đại diện theo pháp luật của người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi”.

Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm thông báo về thời hạn chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc, gửi bản sao giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện bắt buộc cho các cơ quan hữu quan, đặc biệt là UBND và Công an cấp xã nơi người sau cai nghiện cư trú theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Nghị định 116/2021/NĐ-CP đối với tất cả các trường hợp chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc, để thực hiện việc ra quyết định quản lý đối tượng sau cai nghiện theo quy định để đảm bảo tính pháp lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả quản lý trong thực tiễn.  

Tuy nhiên thực tiễn cho thấy khoảng trống pháp lý trong việc xử lý người sau cai nghiện không thực hiện nghĩa vụ trình báo về địa phương hiện nay thể hiện rõ ở hai khía cạnh: Cơ chế ràng buộc trách nhiệm và phương thức tổ chức quản lý. Khi người cai nghiện không chủ động trình báo, cơ sở cai nghiện không thông báo cho chính quyền địa phương sẽ dẫn đến một “khoảng trống thời gian” mà khi đó người sau cai nghiện ma túy gần như không chịu bất kỳ sự kiểm soát chính thức nào. Điều này làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước và tiềm ẩn nguy cơ tái nghiện hoặc phát sinh các tội phạm khác. Bên cạnh đó, việc phụ thuộc quá nhiều vào quyết định hành chính của từng địa phương khiến cho việc áp dụng pháp luật thiếu tính thống nhất, dễ dẫn đến tình trạng cùng một hành vi nhưng có nơi xử lý, có nơi lại bỏ ngỏ hoặc xử lý không triệt để.

Từ thực trạng này, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đặt ra một cách cấp thiết. Trước hết, cần thiết lập một cơ chế pháp lý đủ mạnh để buộc người sau cai nghiện phải thực hiện nghĩa vụ trình báo ngay sau khi kết thúc quá trình cai nghiện và trách nhiệm mang tính bắt buộc của các cơ sở cai nghiện phải thông báo bằng văn bản cho chính quyền địa phương nơi người cai nghiện cư trú để nắm bắt thông tin và có biện pháp quản lý sau cai nghiện kịp thời. Đồng thời, quy định chế tài cụ thể với các hành vi không thực hiện nghĩa vụ để bảo đảm tính răn đe và khả năng thực thi trên thực tế. Sau đó, cần có sự đồng bộ hóa dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước nằm tạo ra một cơ chế liên kết, tự động hóa, quản lý dữ liệu điện tử thuận tiện cho việc tra cứu lý lịch, quản lý đối với các đối tượng nghiện ma túy.

Phải nói rằng, công tác quản lý sau cai nghiện ma túy trên thực tiễn hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là sự xuất hiện của “lỗ hổng pháp lý” giữa việc xử lý hành chính và xử lý hình sự các trường hợp người đang trong thời hạn quản lý sau cai nhưng trên thực tế lại không chịu sự quản lý của bất kỳ cơ quan nào do không có quyết định quản lý sau cai tại địa phương. Nếu áp dụng trách nhiệm hình sự khi chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý có thể dẫn đến nguy cơ “hình sự hóa” không phù hợp; ngược lại, nếu quá thận trọng về mặt pháp lý, cơ chế quản lý lại trở nên kém hiệu quả và dễ bị lợi dụng. Trong bối cảnh pháp luật chưa hoàn thiện, cách tiếp cận hợp lý là thận trọng trong việc áp dụng trách nhiệm hình sự, đặc biệt khi chưa tồn tại quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy hợp lệ làm cơ sở pháp lý trực tiếp. Tuy nhiên, về lâu dài, yêu cầu đặt ra là phải nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tăng cường trách nhiệm thông báo của các cơ quan, tổ chức có liên quan, đồng thời thiết lập cơ chế thực thi hiệu quả hơn nhằm bảo đảm vừa tuân thủ nguyên tắc pháp chế, vừa nâng cao hiệu quả quản lý xã hội.

Phương Thảo, VKSND khu vực 2 - Hà Nội