Về định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự theo Nghị quyết số 27/NQ-TW

Ngày đăng : 15:16, 06/05/2026

(Kiemsat.vn) - Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, yêu cầu của pháp luật hình sự trong Nhà nước pháp quyền theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, việc xây dựng pháp luật hình sự cần có các định hướng cụ thể trong thời gian tới. Các định hướng này phải bám sát Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương và xuất phát từ nhu cầu phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về chính sách hình sự với các sửa đổi, bổ sung quan trọng như bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội danh; nâng mức hình phạt tù, hình phạt tiền đối với một số tội danh… Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, yêu cầu của pháp luật hình sự trong Nhà nước pháp quyền theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, việc xây dựng pháp luật hình sự cần có các định hướng cụ thể trong thời gian tới.

Ở Việt Nam, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự (bao gồm Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và pháp luật phòng chống tội phạm) được thực hiện thường xuyên, liên tục từ năm 1945 đến nay với các mức độ, phạm vi khác nhau. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (Nghị quyết số 27/NQ-TW) có nhiều nội dung quan trọng, trong đó có những nội dung về cải cách pháp luật về tư pháp hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) đã tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về chính sách hình sự với các sửa đổi, bổ sung quan trọng như bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội danh, nâng mức hình phạt tù, hình phạt tiền đối với một số tội danh... Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, yêu cầu của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự trong Nhà nước pháp quyền theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, việc xây dựng pháp luật hình sự có các định hướng cụ thể.

Các định hướng này phải bám sát Nghị quyết số 27/NQ-TW và xuất phát từ nhu cầu phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của Nhà nước pháp quyền; yêu cầu của phòng, chống tội phạm và hội nhập quốc tế… Các định hướng cần dựa vào kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật hình sự, cụ thể như sau:

1. Đổi mới tư duy về Luật hình sự, tiếp tục xu hướng nhân đạo của luật hình sự

Bản chất của Luật hình sự là lĩnh vực luật công, luôn chứa đựng tính chất cưỡng chế và trừng trị, nhưng xu hướng chủ đạo của Luật hình sự vẫn là nhân đạo. Nghị quyết số 27/NQ-TW đã nhấn mạnh: Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận. Trước đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có nội dung: Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.

Tư duy mới về Luật hình sự không phải nhấn mạnh tính trừng trị, trấn áp, không thể “tiếp tục xu hướng lạm dụng luật hình sự đã được coi là hình thành dưới sự ảnh hưởng của đối kháng giai cấp và xã hội sâu sắc…, không thể coi Luật hình sự là liều thuốc vạn năng giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội”[1].

Để tiếp tục xu hướng nhân đạo đòi hỏi việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự cần tiếp cận từ phương diện lấy tiêu chuẩn quyền con người là mục tiêu đạt được và hơn thế nữa không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu, mà còn quan tâm tới quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó. Quan niệm này tiếp cận trên cơ sở quyền thể hiện đầy đủ nhất trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Ở đó, mục đích đạt được là bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự (luật nội dung) và cách thức đạt được đó chính là pháp luật tụng hình sự (luật hình thức).

Thời gian qua, tiếp cận quyền và nhân đạo hóa đã được thể hiện trong chính sách và pháp luật hình sự Việt Nam. Trong thời gian tới, xu hướng nhân đạo dựa trên tiếp cận quyền trong xây dựng hoàn thiện pháp luật hình sự cần được tiếp tục. Bởi lẽ:

Nhận thức về mục đích của hình phạt sẽ tác động đến cơ cấu của hệ thống hình phạt, nội dung của loại hình phạt cụ thể và các biện pháp thi hành án hình sự. Nếu mục đích trừng trị thì hệ thống hình phạt sẽ bao gồm các loại hình phạt mang tính chất hà khắc, tác động mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật thi hành án hình sự. Các biện pháp hình phạt cũng vì thế mà nặng về tính trừng trị để phục vụ cho mục đích của hình phạt[2].

Các lý thuyết thực dụng về hình phạt nhấn mạnh đến hậu quả của hình phạt hơn là tội lỗi về mặt đạo đức của người phạm tội. Lý thuyết phục hồi chức năng dựa trên khái niệm rằng hình phạt phải là để phục hồi chức năng cho người phạm tội. Mục đích của nó không phải là trừng trị mà giúp người phạm tội phục hồi chức năng để họ tái hòa nhập tốt vào xã hội[3]. Đây cũng là vấn đề cần nghiên cứu để xác định mục đích hình phạt đảm bảo xu hướng nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam cần tiếp thu để xây dựng cơ chế tư pháp phục hồi trong tư pháp hình sự.

Chính vì vậy, xây dựng pháp luật trong thời gian tới cần theo hướng hình phạt nhằm bảo vệ xã hội trước sự xâm phạm của tội phạm, duy trì công lý, bảo vệ quyền lợi của các cá nhân trong xã hội. Mục đích này cần được thể hiện trong nội dung của Luật hình sự bao gồm quy định về tội phạm, trách nhiệm hình sự, hệ thống hình phạt, thi hành án hình sự và đặc biệt là thực tiễn áp dụng.

Ngoài ra, pháp luật hình sự Việt Nam cần mở rộng các căn cứ áp dụng các biện pháp thay thế hình phạt tù; mở rộng các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự...

2. Tiếp tục phân hóa trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự

Pháp luật hình sự phải chứa đựng giá trị công bằng trong việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đảm bảo cho điều đó. Bởi lẽ, những hành vi phạm tội cụ thể không những có sự khác nhau về nguyên nhân và điều kiện phát sinh, về tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà còn có sự khác nhau ở tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết khách quan và chủ quan. Chính vì vậy, nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra và được coi là nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam[4]. Phân hóa trách nhiệm hình sự là đảm bảo cho hình phạt và trách nhiệm hình sự phù hợp với tính chất mức độ, nguy hiểm cho xã hội của hành vi, phù hợp với nhân thân người phạm tội. Với tầm quan trọng đó, việc phân hóa trách nhiệm hình sự liên tục được nhận thức và thực hiện trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta.

- Trong các nhóm tội: Quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành vẫn chưa rõ ràng trong cấu thành của một số tội như: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế với các tội phạm về chức vụ, các tội xâm phạm sở hữu. Một trong những dấu hiệu cấu thành của các tội phạm tham nhũng là lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công vụ để vụ lợi. Như vậy, yếu tố vụ lợi rất quan trọng để phân biệt với các tội cũng lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công vụ nhưng chỉ gây thiệt hại mà không vụ lợi, đó là các tội trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Nhiều tội trong nhóm này có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung “vì vụ lợi”[5]. Ví dụ: Điều 188 (điểm e khoản 2) quy định Tội buôn lậu trong trường hợp “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”; Điều 200 (điểm c khoản 2) quy định Tội trốn thuế trong trường hợp “lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Điều này dẫn đến nhiều trường hợp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có tính chất vụ lợi đáng lẽ phải bị xử lý về các tội về tham nhũng nhưng lại bị xử lý về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế với tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp hơn và trách nhiệm hình sự cũng nhẹ hơn.

Bên cạnh đó, cần phân hóa trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp nhận hối lộ đã thực hiện, chưa thực hiện hành vi theo yêu cầu của người đưa hối lộ; nhận tiền, lợi ích nhưng thực hiện hành vi trái công vụ hoặc không trái công vụ theo yêu cầu của người đưa…; nhận hối lộ do chỉ đạo, ép buộc của cấp trên…

- Trong hệ thống hình phạt: Ngoài những hình phạt như tử hình, tù có thời hạn, tù chung thân, phạt tiền thì xu hướng quốc tế hiện nay là đa dạng hóa các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt đảm bảo nguyên tắc phân hóa, cá thể hóa trong thi hành án hình sự; đặc biệt là hệ thống hình phạt bổ sung không tước tự do. Hệ thống hình phạt trong pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm 07 loại hình phạt chính, 07 loại hình phạt bổ sung được áp dụng cho tất cả các tội phạm cụ thể dẫn đến các loại tội phạm chỉ bị áp dụng một trong các loại hình phạt nói trên là thiếu linh hoạt và không đảm bảo tối đa nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong Luật hình sự và kéo theo là cá thể hóa trong thi hành án hình sự. Với sự đa dạng và phong phú của tội phạm trên thực tế, đòi hỏi hệ thống hình phạt cần phải có tính chuyên biệt phù hợp với từng loại tội cụ thể. Trong thời gian tới, cần bổ sung các loại hình phạt mang tính chất “hình phạt cộng đồng”(community punishments). Bản chất của các hình phạt đề cao việc giáo dục, cải tạo người phạm tội dựa trên sự hỗ trợ từ cộng đồng với mục đích giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của người phạm tội, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong tư pháp hình sự như: Lao động công ích, giám sát tư pháp, quản chế có sử dụng phương tiện giám sát điện tử. Chính vì vậy, ở một số nước trên thế giới, hình phạt chính đối với một số loại tội phạm có vẻ như rất nhẹ, nhưng hình phạt bổ sung là quan trọng và có giá trị phòng ngừa cao.

3. Xây dựng chính sách hình sự đối với các nhóm tội cụ thể

Mỗi thời kỳ, Việt Nam đã xây dựng chính sách hình sự khác nhau phù hợp điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Một trong những nội dung quan trọng của chính sách hình sự là chính sách tội phạm hóa, phi tội phạm hóa. Vấn đề này đã được thể hiện rất rõ trong BLHS năm 2015. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu để tội phạm hóa các hành vi đó với tư cách tội phạm cụ thể trong BLHS. Chẳng hạn như hành vi làm giàu bất chính[6]. Cơ sở tội phạm hóa hành vi này đã được nghiên cứu từ phương diện lý luận và thực tiễn. Công ước quốc tế về chống tham nhũng coi đây là hành vi tham nhũng, nhiều nước trên thế giới đã tội phạm hóa hành vi này (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo…).

Vấn đề tội phạm hóa còn được đặt ra trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0. Trong bối cảnh này đã phát sinh những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới với sự xuất hiện của nhóm tội phạm mạng, đòi hỏi các quốc gia cần có biện pháp để phòng chống. Các văn kiện quốc tế về chống tội phạm như Budapest Convention (ETS No. 185 và sắp tới đây là Công ước Hà Nội (the United Nations Convention against Cybercrime) sắp được ký kết vào tháng 11 năm 2025, đều khuyến nghị các quốc gia cụ thể hóa nội dung công ước này trong việc quy định cụ thể các tội phạm mạng trong pháp luật hình sự quốc gia. Điều đó đặt ra yêu cầu Luật Hình sự Việt Nam cần tiếp thu nội dung của các công ước này để:

Thứ nhất, phân loại một cách khoa học các tội phạm mạng trong Luật hình sự theo hướng tội phạm mạng bao gồm: (i) Tội phạm chống lại máy tính và hệ thống mạng , còn được gọi là tội phạm xâm phạm toàn vẹn máy tính và hệ thống mạng, ví dụ như tấn công, bẻ khóa và từ chối dịch vụ (DoS, từ chối dịch vụ phân tán (DDoS); (ii) Tội phạm sử dụng máy tính, mạng viễn thông còn được gọi là tội phạm có sự hỗ trợ của máy tính, ví dụ như cướp biển, cướp giật và lừa đảo (iii) Tội phạm có liên quan đến máy tính, mạng viễn thông, còn được gọi là tội phạm liên quan đến nội dung máy tính, ví dụ như thù hận, quấy rối, khiêu dâm trực tuyến[7].

Thứ hai, hoàn thiện các tội phạm mạng đã có bằng cách làm rõ hơn các dấu hiệu, bổ sung các hành vi trong cấu thành các tội này và tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm liên quan đến môi trường mạng mà các công ước quốc tế cũng như pháp luật một số quốc gia đã tội phạm hóa. Đó là hành vi xâm phạm tình dục trẻ em trên không gian mạng[8] hoặc hành vi “chiếm hữu, sở hữu nhằm cho người khác sử dụng” và “đề nghị người khác sử dụng, nhập khẩu” công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích phạm tội cần phải được tiếp tục nghiên cứu để tội phạm hóa[9].

Đối với những tội phạm cụ thể cần thiết xây dựng chính sách hình sự riêng để cụ thể hóa tính chất “khoan hồng” và “nghiêm trị”. Ở phương diện này có 02 nhóm tội cần có chính sách hình sự cụ thể: Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và nhóm tội phạm về chức vụ. Việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế luôn bám sát mục đích của Luật Hình sự là giáo dục, phòng ngừa; đồng thời luôn dựa vào đặc điểm khách thể của nó là trật tự quản lý kinh tế mà Luật Hình sự bảo vệ, đó chính là việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối loại tội này phải đảm bảo cho kinh tế thị trường vận hành lành mạnh. Theo đó, cá nhân vi phạm Luật Hình sự sẽ bị xử lý nhưng doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển. Cần ưu tiên bảo vệ các chủ thể phi nhà nước bằng sự thỏa thuận và đền bù hơn là hình phạt, chỉ áp dụng pháp luật hình sự khi có hành vi xâm phạm lợi ích và trật tự công hoặc do những người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước gây ra.

4. Nghiên cứu, mở rộng nguồn pháp luật hình sự

Mở rộng nguồn pháp luật là một trong những nội dung chỉ đạo của Nghị quyết 27-NQ/TW và cũng là nhu cầu đối với pháp luật hình sự hiện nay. Theo đó, tội phạm và hình phạt không chỉ được quy định trong BLHS mà còn có thể được quy định trong các đạo luật chuyên ngành. Vì một trong những nguyên nhân dẫn đến bất cập của BLHS là quy định tất cả các tội phạm thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tương đối ổn định nhưng có nhiều lĩnh vực có tính biến động cao như: Kinh tế, khoa học công nghệ… nên chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn. Mỗi khi một lĩnh vực nào đó có thay đổi thì phải sửa đổi, bổ sung BLHS, nếu không sẽ nảy sinh bất cập. Điều này tạo ra một áp lực không nhỏ về quy trình sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS với ý nghĩa là một trong những bộ luật quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật ở nước ta. Vì vậy, việc nghiên cứu khả năng mở rộng nguồn của Luật Hình sự là cần thiết để khắc phục các nhược điểm nêu trên.

Đinh Thế Hưng


[1] Đào Trí Úc, Cải cách tư pháp hình sự ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra, Kỷ yếu Hội thảo “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, định hướng đến năm 2045, Ban chỉ đạo xây dựng Đề án Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng 2045”, Đà Nẵng, tháng 01/2022.

[2] Đinh Thế Hưng (2019), Nhận thức về hình phạt, mục đích của hình phạt trong chính sách, pháp luật thi hành án hình sự, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, Chuyên đề  số 01/2019.

[3] Khadam, N., Anjum, N., Alam, A., Mirza, Q. A., Assam, M., Ismail, E. A., & Abonazel, M. R. How to punish cyber criminals: A study to investigate the target and consequence based punishments for malware attacks in UK, USA, China, Ethiopia & Pakistan. Heliyon, 2022, 9(12).

[4] Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Tư pháp, tr. 33.

[5] Nguyễn Ngọc Hòa, Tham luận “Bộ luật Hình sự - Cơ sở pháp lý quan trọng của chống để phòng ngừa các tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo Phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế theo pháp luật Việt Nam, Trung Quốc và quốc tế, ĐH Luật- ĐH Huế, 2021, tr. 24

[6] Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu để tội phạm hóa các hành vi đó với tư cách tội phạm cụ thể trong BLHS. Chẳng hạn như hành vi làm giàu bất chính

[7] Phillips, K. Davidson, J. C.Farr, R. R..Burkhardt, C. Caneppele, S.& Aiken, M. P. (2022). Conceptualizing cybercrime: Definitions, typologies and taxonomies.  Forensic sciences, 2(2), 379-398.

[8] Điều 9, Công ước Châu Âu về chống tội phạm mạng 2001, Điều 15, Công ước quốc tế về chống tội phạm mạng, 2025.

[9] Nguyễn Quý Khuyến (2021), Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo Luật Hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 17/2025