Nguyên nhân của tội phạm ẩn trong hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến ngân hàng

Ngày đăng : 14:52, 09/04/2026

(Kiemsat.vn) - Tội phạm ẩn là một nội dung không thể thiếu khi đánh giá tình hình tội phạm, nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều quan điểm khoa học chưa thống nhất. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề về tội phạm ẩn dưới góc độ tội phạm học, từ đó chỉ ra những nguyên nhân và giải pháp hạn chế mức độ ẩn của tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến ngân hàng.

1. Một số vấn đề về tội phạm ẩn trong tội phạm học

1.1. Khái niệm tội phạm ẩn

Thuật ngữ “tội phạm ẩn” - “dark figure of crime” do Adolphe Quetelet, nhà thiên văn học, toán học, xã hội học của Bỉ đưa ra lần đầu tiên vào năm 1830. Ở Việt Nam, tội phạm ẩn là khái niệm mới xuất hiện vào khoảng những năm 90 của thế kỷ trước; hiện nay, khái niệm này đã được sử dụng phổ biến trong các công trình tội phạm học nhưng cũng tồn tại nhiều quan điểm khoa học, nhiều cách diễn đạt khác nhau. Ví dụ như: “Tội phạm ẩn là toàn bộ các tội phạm cụ thể đã xảy ra và số lượng người thực hiện các tội phạm đó chưa bị phát hiện và xử lý hình sự, vì vậy nó không có trong thống kê hình sự”[1]; hoặc “Tội phạm ẩn là khái niệm chỉ một phần trong tổng thể các tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trên một địa bàn nhất định mà chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện về sự kiện nói chung hoặc chưa nhận biết được sự kiện, hành vi đã phát hiện là tội phạm”[2]… Tuy được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng: Tội phạm ẩn là các tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng không bị phát hiện, không bị xử lý hình sự hoặc không có trong thống kê tội phạm.

Bên cạnh thuật ngữ “tội phạm ẩn”, một số nhà nghiên cứu tội phạm học ở Việt Nam còn sử dụng các thuật ngữ “phần ẩn của tình hình tội phạm”. Ví dụ, “phần ẩn của tình hình tội phạm là bộ phận của tình hình tội phạm mà trong đó các tội phạm được phản ánh là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lí hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm”[3]; hoặc “Phần ẩn của tình hình tội phạm là một trong hai bộ phận cấu thành của tình hình tội phạm, được tạo nên bởi tổng thể các hành vi phạm tội đã xảy ra trên thực tế cùng chủ thể thực hiện các hành vi đó ở một đơn vị không gian, thời gian xác định, song không bị phát hiện, hoặc tuy bị phát hiện nhưng không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc bị bỏ sót chưa có trong thống kê tội phạm chính thức”[4]. Ngoài ra, một số tác giả còn sử dụng thuật ngữ “tình hình tội phạm ẩn” hoặc “phần ẩn của tội phạm”. Dù sử dụng thuật ngữ nào thì tội phạm ẩn cũng phản ánh tình trạng có nhiều tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng không được phát hiện, không được xử lý hình sự hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.

Từ thực tiễn nghiên cứu và phân tích, tổng hợp các quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy tình hình tội phạm xét về cấu trúc bao gồm hai phần là phần hiện của tình hình tội phạm (được tạo nên bởi tội phạm rõ) và phần ẩn của tình hình tội phạm (được tạo nên bởi tội phạm ẩn). Chúng tôi cũng đưa ra khái niệm về tội phạm ẩn như sau: Tội phạm ẩn là tổng thể các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong thực tế nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hình sự hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.

1.2. Phân loại tội phạm ẩn

Phân loại tội phạm ẩn có ý nghĩa trong việc xác định nguyên nhân dẫn tới tội phạm ẩn và đánh giá tình hình tội phạm. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại tội phạm ẩn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, tội phạm ẩn gồm hai loại: (i) Tội phạm ẩn khách quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không có thông tin về chúng; (ii) Tội phạm ẩn chủ quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trong thực tế mà cơ quan điều tra đã nhận được thông tin về vụ việc nhưng do các nguyên nhân khác nhau mà vụ án không được xử lý hình sự. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, ngoài 2 loại trên còn có tội phạm ẩn thống kê (là trường hợp tội phạm đã được xử lý về hình sự nhưng không được đưa vào thống kê tội phạm).

Có ý kiến cho rằng, việc nghiên cứu tội phạm ẩn thống kê có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình hình tội phạm nói chung, nhưng nếu đưa nó vào phạm trù “tội phạm ẩn” là không phù hợp với những tiêu chí đánh giá về tình hình tội phạm ẩn, như “thời gian ẩn”, “lý do ẩn” và “độ ẩn”[5]. Quan điểm khác cho rằng, xem tội phạm ẩn thống kê là loại tội phạm ẩn là phiến diện, bởi số lượng tội phạm này chỉ “ẩn” đối với các số liệu tổng hợp về tình hình tội phạm mà thôi, còn thực tế số lượng tội phạm này đã bị phát hiện, đã bị xử lý bằng các chế tài hình sự[6].

Theo chúng tôi, tội phạm ẩn thống kê là một loại tội phạm ẩn, bởi các lý do sau đây: Một là, kể cả bỏ qua các sai sót thống kê thì tội phạm ẩn thống kê vẫn tồn tại trong thực tế. Ví dụ 1: Trường hợp một vụ án có nhiều tội danh thì tội danh của vụ án được thống kê theo tội danh nghiêm trọng nhất của vụ án (của bị can đầu vụ). Khi đó, những tội danh ngoài tội danh nghiêm trọng nhất đã không được đưa vào thống kê. Ví dụ 2: Trong thời gian từ năm 2010 đến 2015, các cán bộ của Ngân hàng A Chi nhánh H gồm: Trần Đình T, Bùi T Như A, Nguyễn Trường S, Nguyễn Văn T đã lập 71 hợp đồng tín dụng cho 36 khách hàng không có đủ điều kiện vay vốn, cố ý nâng khống giá trị tài sản đảm bảo để cho vay theo nhu cầu của khách hàng, dẫn đến khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng không thu hồi nợ được do không có tài sản bảo đảm, không có căn cứ để xử lý tài sản bảo đảm hoặc xử lý tài sản bảo đảm nhưng không đủ để thu hồi nợ, gây thiệt hại cho ngân hàng tổng số tiền gốc là 18.927.196.884 đồng[7]. Như vậy, theo nội dung bản án thì 04 bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” nhiều lần, cụ thể là 45 lần, nhưng nếu chỉ thống kê là 01 vụ phạm tội, tức là bỏ ngoài sổ thống kê 44 hành vi phạm tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng (HĐNH), hoạt động khác liên quan đến HĐNH. Như vậy, các trường hợp trên dù không có sai sót về thống kê nhưng các tội phạm đã xảy ra trong thực tế vẫn không được đưa vào thống kê.

Hai là, xuất phát từ cách tiếp cận về khái niệm tội phạm ẩn. Việc biết hay chưa biết, bị phát hiện hay chưa bị phát hiện được thể hiện qua số liệu thống kê. Tội phạm ẩn là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng chưa được biết đến, chưa được phát hiện trong số liệu thống kê tội phạm. Từ “ẩn” trong tội phạm ẩn phải được hiểu theo nghĩa là “không thấy”, không có trong thống kê tội phạm (do không được phát hiện hoặc được phát hiện nhưng không được xử lý về hình sự hoặc đã được xử lý về hình sự nhưng không được đưa vào thống kê tội phạm). Việc không được phát hiện, không được xử lý về hình sự có thể do khách quan hoặc do lỗi chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền. Từ đó, tội phạm ẩn được phân thành tội phạm ẩn khách quan và tội phạm ẩn chủ quan. Còn tội phạm đã được xử lý về hình sự nhưng không được đưa vào thống kê tội phạm, nghĩa là nó đã bị “ẩn giấu” khỏi số liệu thống kê, nên nó cũng là tội phạm ẩn. Đây chính là loại tội phạm ẩn thứ ba - tội phạm ẩn thống kê.

Ba là, hầu hết các quan điểm khoa học hiện nay đều công nhận tình hình tội phạm gồm hai phần là phần hiện và phần ẩn. Tội phạm ẩn thống kê không phải là tội phạm rõ do tội phạm ẩn thống kê không có trong thống kê tội phạm (Tội phạm rõ là tội phạm đã xảy ra trên thực tế, đã bị phát hiện, xử lý về hình sự và có trong thống kê hình sự chính thức[8]). Nếu tội phạm ẩn thống kê không phải là một loại tội phạm ẩn theo như một số quan điểm, thì tình hình tội phạm còn phải tồn tại phần thứ ba - phần sai số thống kê. Điều này là không phù hợp với lý luận về tình hình tội phạm. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, tội phạm ẩn thống kê nên là một loại tội phạm ẩn, là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn.

1.3. Nguyên nhân dẫn tới tội phạm ẩn

Mục đích của nghiên cứu tội phạm ẩn là để đánh giá tình hình tội phạm, thông qua đó sẽ giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả cao, sát hợp với thực tiễn. Để tội phạm ẩn “hiện lên” một cách rõ nét, cần phải xác định được nguyên nhân dẫn tới tội phạm ẩn. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tội phạm ẩn nhưng có thể chia làm 05 nhóm:

Nguyên nhân từ phía chủ thể thực hiện tội phạm: Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ đoạn quá tinh vi, xảo quyệt, hoặc đe dọa nạn nhân, người làm chứng, thỏa thuận với nạn nhân, người làm chứng để họ không tố giác tội phạm, hối lộ cơ quan có thẩm quyền để thoát tội.

Nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm: Nạn nhân không tố cáo hoặc không có khả năng tố cáo hành vi phạm tội, có thể là do sợ trả thù, không tin tưởng vào cơ quan bảo vệ pháp luật, sợ phiền hà, sợ công khai bí mật đời tư, có thỏa thuận từ phía nạn nhân và phía người thực hiện hành vi phạm tội, do nạn nhân đã chết hoặc mất khả năng nhận thức không thể khai báo.

Nguyên nhân từ phía người làm chứng: Người làm chứng không dám tố cáo hoặc đứng ra làm chứng do sợ bị trả thù, sợ liên lụy bản thân, quen thân với người phạm tội, hoặc nhận được một lợi ích nào đó nên họ không đứng ra làm chứng.

Nguyên nhân từ phía cơ quan chức năng: Có hành vi nhận hối lộ để không xử lý vụ việc, do nể nang, quen biết nên bao che không xử lý, do thiếu tinh thần trách nhiệm, do trình độ nghiệp vụ chưa cao.

Nguyên nhân do thống kê: Do kỹ thuật xây dựng các cấu thành tội phạm trong Bộ luật Hình sự, do các quy định về thống kê chưa thể hiện hết được các tội phạm đã xảy ra trong thực tế, do công tác thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng còn có sai số.

Việc làm rõ nguyên nhân dẫn tới tội phạm ẩn nói chung là cơ sở để xác định nguyên nhân “ẩn” của một số tội cụ thể. Do đặc điểm khác nhau nên mỗi loại tội phạm cụ thể lại có nguyên nhân “ẩn” khác nhau.

2. Nguyên nhân của tội phạm ẩn trong hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến ngân hàng

Theo báo cáo tổng kết công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao các năm 2018 đến năm 2023 và Báo cáo sơ kết 06 tháng đầu năm 2024, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố 84 vụ với 443 bị can vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH. Tình hình số vụ vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH trong khoảng thời gian này tăng giảm không theo quy luật, trong đó năm 2023 cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố nhiều nhất với 33 vụ, 185 bị can; năm 2020 khởi tố ít nhất với 13 vụ, 73 bị can. Cũng trong khoảng thời gian này, tuy số vụ án vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH chỉ chiếm 0,4% so với số vụ án về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII Bộ luật Hình sự), nhưng mức độ thiệt hại lại gia tăng.

Nghiên cứu về Tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH, có thể thấy tội phạm này ẩn bởi một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nguyên nhân từ phía chủ thể thực hiện tội phạm. Trong nhiều trường hợp, Tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH được thực hiện với các phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt để “che mắt” bộ phận quản lý, giám sát nội bộ, các cơ quan quản lý, cơ quan thanh tra, giám sát như: Thông đồng với khách hàng sử dụng các loại giấy tờ giả với công nghệ làm giả tiên tiến rất khó phát hiện để làm hồ sơ tài sản thế chấp giả, hợp đồng, hóa đơn mua bán giả, phương án kinh doanh giả, chứng thư bảo lãnh giả, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm giả; thành lập các công ty “ma”, “dự án ma” để vay vốn; lập các phương án vay vốn khống; thông đồng với các đơn vị định giá để hợp thức giá trị tài sản hoặc nâng khống giá trị tài sản bảo đảm; sửa chữa giấy tờ tài sản cầm cố làm tăng giá trị, thông đồng với các đối tượng khác để cho vay với giá trị lớn; giả mạo chữ ký của khách hàng để rút tiền trong tài khoản của khách hàng; một số doanh nghiệp nước ngoài và trong nước cấu kết với nhau xin cấp hạ tầng, lập dự án, thông đồng với cán bộ ngân hàng để vay vốn, hợp thức hóa việc sử dụng vốn vay bằng các hợp đồng nâng khống giá trị máy móc, thiết bị với các đối tác nước ngoài để chuyển tiền ra nước ngoài; sử dụng công nghệ cao để phạm tội... Hành vi phạm tội có tổ chức, có tính toán, bàn bạc, có dự mưu từ trước, có sự hợp tác, móc nối của nhiều đối tượng trong và ngoài ngân hàng, có nhiều đồng phạm, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, tài chính nên rất khó phát hiện. Hơn thế, nhiều đối tượng phạm tội còn mua chuộc, hối lộ chính những cán bộ quản lý, thanh tra, giám sát để che giấu hành vi phạm tội[9]. Khi bị phát giác hành vi phạm tội, các đối tượng còn nhờ cậy, mua chuộc, hối lộ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật hòng thoát tội, không bị xử lý hình sự, hoặc làm giảm nhẹ tội. Bên cạnh đó, có những trường hợp sau khi chiếm đoạt tiền của ngân hàng, khách hàng, nếu chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện, các đối tượng sẵn sàng thỏa thuận bồi thường thiệt hại với ngân hàng, bị hại, mua chuộc người làm chứng để họ không tố cáo hành vi phạm tội với cơ quan Công an, dẫn đến tội phạm tuy đã xảy ra trong thực tế nhưng không được phát hiện, điều tra, xử lý, không có trong thống kê tội phạm.

Thứ hai, nguyên nhân từ phía nạn nhân. Tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH gây ra thiệt hại về tài sản cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác - những chủ thể này được xác định là nạn nhân của tội phạm. Tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH là loại tội phạm có độ ẩn tương đối cao, nhiều trường hợp phạm tội trong một thời gian dài nhưng không được phát hiện, không được xử lý hình sự. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do các ngân hàng, tổ chức tín dụng không làm tốt công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát nội bộ nên không phát hiện được hành vi phạm tội của cán bộ, nhân viên. Hoặc khi phát hiện ra nhưng người đứng đầu đơn vị ngân hàng không muốn giảm uy tín trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, sợ liên quan đến trách nhiệm khi phát hiện, tố giác vi phạm, tội phạm trong nội bộ cũng như công khai thông tin vi phạm tại đơn vị, tổ chức của mình nên không tố cáo với cơ quan chức năng mà bưng bít, tự xử lý nội bộ, cho cán bộ nhân viên khắc phục hậu quả, nếu không khắc phục được thì mới báo cáo cơ quan chức năng để xử lý, điều tra, thu hồi tài sản.

Bên cạnh đó, một số nạn nhân khác như các cơ quan, tổ chức, cá nhân là khách hàng của ngân hàng, tổ chức tín dụng, nếu được hoàn trả tài sản đầy đủ cũng không tố cáo hành vi phạm tội với cơ quan có thẩm quyền. Những khách hàng này thường không hay biết về hành vi phạm tội của đối tượng cho đến khi họ rút tiền khỏi ngân hàng. Trường hợp nếu biết về hành vi phạm tội trước các cơ quan tiến hành tố tụng, họ sẽ làm việc với ngân hàng để quyền lợi về tài sản của mình được bảo vệ, nếu không được bảo vệ thì mới tố cáo với cơ quan tiến hành tố tụng nhằm thu hồi lại tài sản của mình.

Thứ ba, nguyên nhân từ phía người làm chứng. Vụ án vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH thường có ít người làm chứng, bởi hành vi phạm tội thường được thực hiện rất tinh vi, kín đáo và xảy ra trong một thời gian dài, mỗi cán bộ, nhân viên ngân hàng thường được bố trí một công việc hoặc thực hiện một công đoạn nhất định, nên hành vi phạm tội của các đối tượng rất ít khi được phát hiện bởi cán bộ, đồng nghiệp hoặc lãnh đạo cấp trên. Bên cạnh đó, những người biết về hành vi phạm tội lại nể nang, quen thân với người phạm tội nên không muốn tố cáo, không muốn can thiệp vào công việc của nhau, hoặc làm theo sự chỉ đạo của cấp trên nên không dám tố cáo hoặc đứng ra làm chứng, sợ liên lụy bản thân, sợ ảnh hưởng đến công việc của mình. Những người này chỉ cung cấp thông tin về hành vi phạm tội khi được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đích danh, hoặc khi hành vi phạm tội có liên quan đến họ.

Thứ tư, nguyên nhân từ phía cơ quan chức năng. Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng thực tế có nơi, có lúc còn chưa hiệu quả. Việc phối hợp trao đổi thông tin, tài liệu giữa các cơ quan chức năng với một số đơn vị ngân hàng chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao, dẫn đến việc xử lý vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Bên cạnh đó, các cơ quan tiến hành tố tụng có những thời điểm còn chưa thực sự chủ động trong nắm tình hình, phát hiện hành vi phạm tội…

Thứ năm, nguyên nhân do thống kê. Do các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và yêu cầu thực tiễn đấu tranh chống tội phạm nên có nhiều trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH nhiều lần qua nhiều năm nhưng khi được phát hiện, xử lý lại được xét xử 01 lần nên cũng chỉ thống kê 01 vụ phạm tội. Hoặc do các quy định về thống kê chưa thể hiện hết được các tội phạm đã xảy ra trong thực tế, mặc dù công tác thống kê đã được thực hiện đúng theo văn bản hướng dẫn, không có sai sót như trường hợp vụ án có nhiều tội danh, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng chỉ thống kê theo tội danh nghiêm trọng nhất của vụ án (của bị can đầu vụ); nếu bị can bị khởi tố về nhiều tội trong cùng một vụ án thì tội danh của bị can được thống kê theo tội danh nghiêm trọng nhất trong vụ án đó; nếu các tội danh có cùng mức độ nghiêm trọng thì thống kê theo tội danh có số thứ tự của điều luật nhỏ nhất trong Bộ luật Hình sự.

3. Giải pháp hạn chế mức độ ẩn của Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến ngân hàng

Qua nghiên cứu, xác định nguyên nhân ẩn của tội vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH trong những năm qua, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế mức độ ẩn của tội phạm này trong thời gian tới.

Một là, các ngân hàng, tổ chức tín dụng cần tăng cường sự minh bạch trong quản trị và trong hoạt động, xây dựng quy trình hoạt động nghiệp vụ nghiêm ngặt, có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả, không để xuất hiện những “kẽ hở” để cán bộ nhân viên ngân hàng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội, tăng cường chuyển đổi số, áp dụng triệt để khoa học công nghệ để giảm thiểu các công việc, công đoạn dễ dẫn đến phát sinh hành vi vi phạm và tội phạm vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH. Ngăn ngừa, hạn chế các hành vi lạm dụng quyền quản trị, điều hành để thao túng, chi phối hoạt động của các tổ chức tín dụng. Khi phát hiện hành vi phạm tội, cần nhanh chóng tố giác, phối hợp với cơ quan công an, cung cấp các tài liệu chứng cứ để xử lý triệt để, dứt điểm, tránh làm gia tăng tình trạng tái phạm tội và răn đe, giáo dục những người khác.

Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng cần tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm sai phạm, nếu có dấu hiệu tội phạm cần chuyển ngay cho cơ quan Công an để tiến hành điều tra, xử lý. Cán bộ, công chức các cơ quan chức năng cần thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ, nâng cao đạo đức công vụ, tránh xa những tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc có liên quan đến hoạt động ngân hàng trong việc chủ động phòng ngừa, tích cực phát hiện tham nhũng, tiêu cực, tố giác những hành vi vi phạm quy định về HĐNH, hoạt động khác liên quan đến HĐNH.

Ba là, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần nâng cao hiệu quả phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc, đặc biệt cơ quan Công an cần nâng cao công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện những hành vi phạm tội, thu thập chứng cứ tài liệu để khởi tố, điều tra công khai, xử lý tội phạm. Đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan bảo vệ pháp luật phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quyết tâm đấu tranh phòng, chống tội phạm đến cùng, không để lợi ích vật chất cám dỗ hoặc bị các đối tượng phạm tội lôi kéo, mua chuộc, lợi dụng nhằm làm giảm nhẹ tội hoặc để xử lý về một tội phạm khác nhẹ hơn hoặc bỏ qua không phát hiện, khởi tố, điều tra, xử lý vụ việc. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật các thủ đoạn phạm tội mới, đặc biệt là các thủ đoạn sử dụng công nghệ cao để phục vụ cho việc phát hiện, đấu tranh, xử lý, làm giảm tình hình tội phạm ẩn.

Ngoài ra, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho cán bộ nhân viên ngân hàng, những người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng. Nội dung vận động, giáo dục cần tập trung vào cách thức nhận diện các thủ đoạn của tội phạm trong mỗi giai đoạn và hướng dẫn cụ thể cho từng nhóm đối tượng, nhất là đối tượng khách hàng, quần chúng nhân dân ở vùng sâu, vùng xa với điều kiện nhận thức hạn chế. Đặc biệt, cần vận động, thuyết phục những chủ thể này tích cực tố cáo hành vi phạm tội, phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, xử lý tội phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tách, nhập vụ án hình sự, quy định về thống kê tội phạm. Nâng cao trách nhiệm của cán bộ làm công tác thống kê, tránh để xảy ra sai sót. Khi đó, tội phạm ẩn thống kê mới được làm “rõ”, có thể dần đạt tới mức được loại trừ hoàn toàn.

Nguyễn Hữu Quyền

------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 1999.

2. Học viện An ninh nhân dân, Giáo trình Tội phạm học Việt Nam, Hà Nội, 2021.

3. Dương Tuyết Miên, Tội phạm học đương đại, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022.

4. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.

5. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2022.

6. Phạm Văn Tỉnh, Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004.

7. Trần Hữu Tráng, Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 03/2000.

8. Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.


[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.98.

[2] Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.93.

[3] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2022, tr.110.

[4] Học viện An ninh nhân dân, Giáo trình Tội phạm học Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr.105.

[5] Nguyễn Xuân Yêm, tlđd, tr.94.

[6] Trần Hữu Tráng, Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/2000, tr.51.

[7] Bản án số 397/2022/HS-PT ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

[8] Dương Tuyết Miên, Tội phạm học đương đại, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022, tr.190.

[9] Ví dụ, trường hợp đối tượng Trương Mỹ Lan đưa hối lộ 5,2 triệu USD để che giấu hành vi phạm tội, che giấu thực trạng tài chính đặc biệt yếu kém và các sai phạm của SCB được phát hiện qua thanh tra từ năm 2012 - 2022. Nguồn: Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 15/2025