Về biện pháp nhận dạng và nhận biết giọng nói trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Ngày đăng : 09:27, 30/03/2026
1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp nhận dạng và nhận biết giọng nói
- Về biện pháp nhận dạng:
Nhận dạng là biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành bằng cách đưa người, ảnh hoặc vật (gọi chung là đối tượng nhận dạng) cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can (gọi chung là người nhận dạng) quan sát, so sánh những đặc điểm, vết tích của đối tượng nhận dạng so với hình ảnh đối tượng mà người nhận dạng đã tri giác trước đây nhằm làm rõ sự đồng nhất, tương đồng hay sự khác biệt giữa đối tượng nhận dạng với đối tượng có liên quan đến vụ án.
Trước đây, biện pháp nhận dạng được quy định tại Điều 139 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015), biện pháp nhận dạng được quy định tại Điều 190 với những nội dung cơ bản được giữ nguyên so với BLTTHS năm 2003 nhưng sửa đổi, bổ sung một số quy định sau:
Thứ nhất, bổ sung quy định Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng, cụ thể: Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận dạng (khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015). Việc quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên sẽ đảm bảo cho quá trình nhận dạng được khách quan hơn; đồng thời, giúp Kiểm sát viên hiểu sâu hơn về hồ sơ vụ án đang điều tra.
Thứ hai, bổ sung những người phải tham gia việc nhận dạng. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 190 BLTTHS năm 2015 thì những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng: Người làm chứng, bị hại hoặc bị can, người chứng kiến.
Thứ ba, bổ sung quy định về nội dung biên bản nhận dạng. Theo đó, nội dung biên bản nhận dạng ngoài việc phải ghi rõ về nhân thân của người nhận dạng và những người được đưa ra để nhận dạng; những đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; còn phải ghi rõ về tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; điều kiện ánh sáng khi thực hiện nhận dạng (khoản 5 Điều 190 BLTTHS năm 2015). Đây là những nội dung ảnh hưởng rất lớn đến tính chính xác, khách quan của hoạt động nhận dạng; vì vậy, cần thiết phải được thể hiện rõ trong biên bản nhận dạng.
- Về biện pháp nhận biết giọng nói:
Nhận biết giọng nói là biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành bằng cách cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói của một người nhằm xác định có đúng là người có giọng nói đó hay không, phục vụ yêu cầu giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án hình sự.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, trong nhiều trường hợp khi vụ án xảy ra, có người tuy không nhìn thấy người phạm tội nhưng lại nghe thấy giọng nói của họ; vì vậy, việc nhận biết giọng nói nếu được thực hiện sẽ là một trong những chứng cứ giúp cơ quan có thẩm quyền xác định được người phạm tội. Bởi lẽ, giọng nói của mỗi người bao giờ cũng có những đặc điểm riêng biệt (về âm sắc, âm lượng…) để phân biệt với giọng nói của người khác. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 chỉ quy định nhận biết giọng nói là một nội dung của nhận dạng: “Trong trường hợp đặc biệt có thể cho xác nhận người qua tiếng nói” (khoản 2 Điều 139), nhưng trình tự, thủ tục tiến hành nhận biết giọng nói lại chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một điều luật quy định về nhận biết giọng nói. Sự bổ sung này là hợp lý và cần thiết, nhằm đa dạng hóa các biện pháp điều tra và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ vụ án.
2. Những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp nhận dạng và nhận biết giọng nói
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015 thì: “Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng”. Theo quy định này thì người nhận dạng có thể là người làm chứng, bị hại hoặc bị can. Khoản 1 Điều 191 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói”. Như vậy, người được yêu cầu nhận biết giọng nói lại là người làm chứng, bị hại hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can. Trước đây, trong BLTTHS năm 2003, nhận biết giọng nói là một nội dung của nhận dạng, hơn nữa trong BLTTHS năm 2015, biện pháp nhận dạng và nhận biết giọng nói về cơ bản được quy định giống nhau, chỉ khác nhau về đối tượng là người, ảnh hoặc vật (đối với nhận dạng) và giọng nói (đối với nhận biết giọng nói). Do đó, việc quy định phạm vi người được yêu cầu nhận biết giọng nói rộng hơn so với người nhận dạng là không hợp lý. Theo tác giả, người nhận dạng, ngoài người làm chứng, bị hại, bị can còn có thể là người bị bắt và người bị tạm giữ. Bởi vì những người này hoàn toàn có thể xác nhận được sự đồng nhất, tương đồng hay sự khác biệt giữa đối tượng nhận dạng với đối tượng có liên quan đến vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác hơn. Do đó, khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi như sau: “Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can nhận dạng”.
Thứ hai, khoản 2 Điều 190 BLTTHS năm 2015 quy định: “Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc bị can;
b) Người chứng kiến”.
Có thể thấy quy định trên chưa đầy đủ, vì người được đưa ra để nhận dạng cũng phải tham gia việc nhận dạng (trừ trường hợp nhận dạng người qua ảnh), nhưng lại không được quy định trong điều luật. Trong khi đó, khoản 2 Điều 191 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Những người sau đây phải tham gia việc nhận biết giọng nói:
a) Giám định viên về âm thanh;
b) Người được yêu cầu nhận biết giọng nói;
c) Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm;
d) Người chứng kiến”.
Với quy định này, người được đưa ra để nhận biết giọng nói (trừ trường hợp việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm) là người phải tham gia việc nhận biết giọng nói. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 2 Điều 190 BLTTHS năm 2015 như sau:
“Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can;
b) Người được đưa ra để nhận dạng, trừ trường hợp nhận dạng người qua ảnh;
c) Người chứng kiến”.
Thứ ba, về trách nhiệm của người làm chứng, bị hại tham gia việc nhận dạng, nhận biết giọng nói khi từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối.
Khoản 3 Điều 190 BLTTHS năm 2015 quy định: “Nếu người làm chứng hoặc bị hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối...” và khoản 3 Điều 191 BLTTHS năm 2015 quy định: “Nếu người làm chứng, bị hại được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối...”. Tuy nhiên cơ sở pháp lý nào để xác định trách nhiệm của người làm chứng, bị hại khi họ từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối?
Điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định người làm chứng có nghĩa vụ: “Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó” và nếu “người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”. Liên quan đến trách nhiệm hình sự của người làm chứng trong trường hợp này, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có quy định về Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối (Điều 382) và Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383). Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự đối với người làm chứng là người nhận dạng, người được yêu cầu nhận biết giọng nói trong trường hợp họ từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Do đó, trước khi tiến hành nhận dạng hoặc nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải có trách nhiệm giải thích cho người làm chứng biết trách nhiệm này.
Tuy nhiên, đối với bị hại, khoản 4 Điều 62 BLTTHS năm 2015 có quy định về nghĩa vụ của bị hại, nhưng lại không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với bị hại trong trường hợp họ khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan giống như đối với người làm chứng. Trong khi đó, theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị hại không phải là chủ thể của Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối (Điều 382); chủ thể của tội này phải là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa và chủ thể của Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383) phải là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, cần sửa đổi khoản 3 Điều 190 và khoản 3 Điều 191 BLTTHS năm 2015 lần lượt như sau: “Nếu người làm chứng là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản (khoản 3 Điều 190); “Nếu người làm chứng được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản” (khoản 3 Điều 191).
Thứ tư, tên Chương XII BLTTHS năm 2015 là “Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng” chưa bao quát hết các biện pháp điều tra được quy định trong Chương này vì còn thiếu biện pháp nhận biết giọng nói. Bên cạnh đó, cần thay thế thuật ngữ “người bị hại” bằng “bị hại” cho đúng với quy định hiện hành. Theo tác giả, cần sửa tên Chương XII như sau: “Lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất, nhận dạng và nhận biết giọng nói”.
Ngoài ra, theo điểm g khoản 1 Điều 37 BLTTHS năm 2015, Điều tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn: “Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra”. Có thể thấy, quy định này cũng chưa đầy đủ vì chưa quy định về quyền hạn tiến hành biện pháp nhận biết giọng nói của Điều tra viên. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho Điều tra viên khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm g khoản 1 Điều 37 BLTTHS năm 2015 như sau: “Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra”.
Ngô Văn Vịnh