Quy định mới về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề Quản tài viên
Ngày đăng : 09:26, 18/03/2026
Nghị định gồm 5 chương, 28 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 và Điều 21 của Luật Phục hồi, phá sản về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, việc cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; quản lý nhà nước đối với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về bồi dưỡng nghề Quản tài viên, bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm.
Về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ hành nghề, Nghị định quy định người được xem xét cấp chứng chỉ phải là luật sư hoặc kiểm toán viên; hoặc có trình độ từ cử nhân trở lên thuộc các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có thời gian công tác từ đủ 5 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo. Bên cạnh đó, cá nhân phải hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên theo quy định.
Đồng thời, Nghị định quy định rõ các trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề, bao gồm: Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đang tại ngũ (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác); người bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc, tước danh hiệu trong thời hạn 3 năm; luật sư, kiểm toán viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề chưa đủ thời hạn; hoặc người bị Tòa án cấm hành nghề theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh đó, Nghị định số 65/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo hướng minh bạch, rút ngắn thời gian xử lý.
Theo đó, người đủ điều kiện có quyền đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cấp chứng chỉ hành nghề. Hồ sơ bao gồm đơn đề nghị theo mẫu; giấy tờ chứng minh trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác; chứng chỉ bồi dưỡng nghề Quản tài viên và các tài liệu liên quan. Hồ sơ được nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử theo quy định.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm xem xét, đề nghị cấp chứng chỉ; trong thời hạn 3 ngày làm việc tiếp theo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cấp hoặc từ chối cấp chứng chỉ và phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc cần xác minh, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bổ sung, làm rõ thông tin; thời hạn giải quyết được tính lại kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026; một số quy định có hiệu lực muộn hơn theo lộ trình cụ thể. Đồng thời, nghị định thay thế Nghị định số 22/2015/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và bãi bỏ các quy định có liên quan tại Nghị định số 112/2025/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP.