Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên
Ngày đăng : 08:08, 25/02/2026
1. Một số vướng mắc, bất cập về thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
1.1. Về thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật TPNCTN năm 2024) quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (XLCH) tại Điều 52 như sau:
“1. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản.
2. Thẩm phán, Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại Điều 36 của Luật này”.
Như vậy, cả ba cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng đối với người chưa thành niên (NCTN) tương ứng với giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự. Riêng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải do Tòa án quyết định. Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp XLCH như trên giúp nhanh chóng đưa NCTN có đủ điều kiện luật định ra khỏi quá trình tố tụng hình sự thông thường, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể, theo Quy tắc 11.2 - Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh)[1] thì Cảnh sát, Cơ quan công tố hay các cơ quan khác đang giải quyết những vụ án liên quan đến NCTN cần được toàn quyền xử lý, mà không cần đến phiên tòa chính thức (formal hearing).
Đối với việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, "cần tiếp tục giao cho Tòa án quyết định, vì đây là biện pháp XLCH nghiêm khắc nhất, được áp dụng với NCTN trên cơ sở căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và môi trường sống của người đó, và cần được giám sát, giáo dục trong môi trường có tính kỷ luật chặt chẽ hơn”[2]. Ngoài ra, Hội đồng xét xử có thẩm quyền đặc biệt trong việc áp dụng biện pháp XLCH đối với NCTN khi vụ án đã được đưa ra xét xử. Theo khoản 6 Điều 151 Luật TPNCTN năm 2024, tại phiên tòa xét xử thân thiện, nếu xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp XLCH, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và ra quyết định áp dụng đối với bị cáo là NCTN.
Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 52 Luật TPNCTN năm 2024, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được quyền áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng trong trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản. Vậy quy định này được hiểu như thế nào cần được hướng dẫn rõ ràng để việc nhận thức và áp dụng pháp luật thống nhất trên thực tiễn.
Theo tác giả, Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát, sau khi thông báo áp dụng thủ tục XLCH, cần làm văn bản kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLCH. Đồng thời, giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản (khoản 5 Điều 55 Luật TPNCTN năm 2024). Ngược lại, trong trường hợp các bên đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về vấn đề bồi thường thiệt hại trước hoặc trong quá trình áp dụng thủ tục XLCH (bao gồm cả khi đã mở phiên họp theo Điều 60 Luật TPNCTN năm 2024) thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vẫn có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng mà không buộc phải chuyển hồ sơ vụ án sang Tòa án.
Quy định trên không nhận thức theo hướng bất kể vụ án hình sự nào có NCTN phạm tội và phát sinh vấn đề bồi thường thiệt hại thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nếu như vậy sẽ giới hạn một cách bất hợp lý thẩm quyền của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc áp dụng biện pháp XLCH, trái với nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp thời vụ án có NCTN[3]. Căn cứ vào tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trong những năm gần đây cho thấy các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015)) và các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI BLHS) là hai nhóm tội phạm luôn chiếm tỉ lệ rất cao. Những vụ án về các tội phạm này thường có vấn đề bồi thường thiệt hại.
Đối với quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp XLCH khi phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản nên được làm rõ. Trước hết, vấn đề tịch thu tài sản theo khoản 1 Điều 52 Luật TPNCTN năm 2024 có đồng nhất với biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 BLHS năm 2015 và biện pháp xử lý vật chứng quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) không? Tại sao trong trường hợp này Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không được quyền áp dụng biện pháp XLCH mà phải chuyển sang Tòa án?
Nhóm tác giả cho rằng, cụm từ “tịch thu tài sản” trong quy định trên thuộc nội hàm biện pháp tư pháp tịch thu “vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm”. Theo đó, tịch thu tài sản bao gồm tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy (khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015). Giải quyết vấn đề tịch thu tài sản nên được hiểu là xem xét, quyết định về việc có tịch thu tài sản hay không. Về khía cạnh tố tụng, tịch thu tài sản trong trường hợp này là một trong những biện pháp xử lý vật chứng. Việc quy định Tòa án có thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp XLCH, đồng thời giải quyết vấn đề tịch thu tài sản nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan bằng một phán quyết của cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp[4]. Biện pháp xử lý vật chứng với hình thức tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tại khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định chỉ được áp dụng khi vụ án đã được đình chỉ. Trong khi đó, vụ án có NCTN trong trường hợp này đang trong quá trình giải quyết và chỉ bị đình chỉ sau khi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp XLCH[5].
1.2. Về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Quy định chung về thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp XLCH được quy định từ Điều 52 đến Điều 58 Luật TPNCTN năm 2024. Nghiên cứu tất cả những điều luật này, nhóm tác giả nhận thấy có một số điểm bất cập như sau:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 55 Luật TPNCTN năm 2024 quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải ra “thông báo” áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục XLCH. Đây là một thủ tục quan trọng, là điều kiện tiên quyết để xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp XLCH. Do đó, việc chỉ sử dụng thông báo mà không phải quyết định là chưa tương xứng với tính chất của thủ tục này. Chính vì vậy đã dẫn đến một hạn chế khác, đó là các bên liên quan và Viện kiểm sát không có quyền khiếu nại, kiến nghị về thông báo này. Ngoài ra, khi quyết định không áp dụng biện pháp XLCH thì cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục giải quyết vụ án mà không cần phải ra quyết định hủy “thông báo” áp dụng thủ tục XLCH. Nguyên nhân có thể xuất phát từ quy định việc áp dụng thủ tục XLCH không làm chấm dứt các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án (khoản 7 Điều 55 Luật TPNCTN năm 2024) và mong muốn đơn giản hóa thủ tục này. Tuy nhiên, thủ tục XLCH là một dạng thủ tục đặc biệt được áp dụng song song với thủ tục tố tụng hình sự thông thường, do đó về nguyên tắc khi không áp dụng thì phải có quyết định hủy.
Thứ hai, giai đoạn tố tụng muộn nhất có thể xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLCH chưa được quy định rõ. Theo nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 1 Điều 11 Luật TPNCTN năm 2024 thì biện pháp XLCH được ưu tiên áp dụng đối với NCTN phạm tội trong tất cả các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Nếu chỉ dựa vào nguyên tắc này thì ngay cả giai đoạn xét xử phúc thẩm cũng có thể áp dụng biện pháp XLCH. Tuy nhiên, khảo sát tất cả các quy định khác của Luật TPNCTN năm 2024, đặc biệt là khoản 6 Điều 151 Luật TPNCTN năm 2024 cho thấy, dường như thời điểm muộn nhất để xem xét, áp dụng biện pháp XLCH là tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có quyền xét lại quyết định áp dụng biện pháp này của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Điểm b khoản 1 Điều 179 Luật TPNCTN năm 2024 quy định: “Trường hợp xét thấy người chưa thành niên có căn cứ để áp dụng biện pháp XLCH quy định tại các điều 35, 37 và 39 của Luật này thì Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm và quyết định áp dụng biện pháp XLCH trong bản án phúc thẩm”. Đây chỉ là quy định chuyển tiếp áp dụng đối với các vụ án hình sự đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm mà đến ngày 01/01/2026 chưa kết thúc để bảo đảm lợi ích tốt nhất của NCTN.
Thứ ba, Luật TPNCTN năm 2024 chưa quy định một nội dung rất quan trọng đã được nhấn mạnh trong văn kiện “Những nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng các chương trình tư pháp phục hồi trong các vấn đề hình sự của Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc”[6] (nguyên tắc số 08) và Bình luận chung số 24[7] (đoạn 18(a)) của Ủy ban Quyền trẻ em, đó là sự tham gia hoặc chấp nhận trách nhiệm của NCTN trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp XLCH không được sử dụng làm chứng cứ để chống lại họ trong quá trình tố tụng hình sự sau đó; nếu không quy định sẽ tạo rào cản cho NCTN trong việc thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý áp dụng XLCH, cũng như gây bất lợi cho họ trong việc thực hiện quyền bào chữa khi quay lại thủ tục tố tụng thông thường[8].
1.3. Về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng
Theo khoản 4 Điều 60 Luật TPNCTN năm 2024 chỉ có hai trường hợp hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng bao gồm: (i) Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được; (ii) NCTN là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng. Như vậy, luật không quy định về việc có thể xem xét hoãn phiên họp khi những chủ thể quan trọng khác như người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt. Trong khi đó, bảo đảm quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư pháp NCTN (khoản 1 Điều 14 Luật TPNCTN năm 2024), bao gồm cả quá trình xem xét, áp dụng biện pháp XLCH. Tương tự, người làm công tác xã hội là người trình bày kế hoạch XLCH (điểm b khoản 2 Điều 60 Luật TPNCTN năm 2024). Kế hoạch này là một tài liệu rất quan trọng cần được xem xét, đánh giá tại phiên họp. Do đó, nếu người làm công tác xã hội vắng mặt, trong một số trường hợp (ví dụ có những nội dung của kế hoạch XLCH cần được làm rõ), người chủ trì phiên họp sẽ gặp khó khăn trong việc quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp XLCH. Ngoài ra, Điều 150 Luật TPNCTN năm 2024 quy định: “Người làm công tác xã hội tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. Nếu người làm công tác xã hội vắng mặt, thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”.
1.4. Về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Thứ nhất, về quy định Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Theo khoản 1 Điều 64 Luật TPNCTN năm 2024, khi chuẩn bị xét xử, nếu Tòa án tự mình xét thấy NCTN phạm tội thuộc trường hợp có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Thẩm phán phải ra quyết định mở phiên họp để xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp này. Khoản 1 Điều 55 Luật TPNCTN năm 2024 quy định trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng, Thẩm phán phải ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục XLCH. Như vậy, trường hợp Tòa án tự mình xét thấy có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì có cần ra thông báo áp dụng thủ tục XLCH trước khi mở phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp này hay không? Đây là điểm chưa thống nhất giữa hai điều luật, có thể dẫn đến vướng mắc khi áp dụng.
Thứ hai, về cách giải quyết trong trường hợp Tòa án không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Khoản 1 Điều 68 Luật TPNCTN năm 2024 quy định: “Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của BLTTHS và Luật này. Điều này có nghĩa là Tòa án không thể tiếp tục xét xử hoặc xem xét áp dụng bất kỳ biện pháp XLCH nào khác. Quy định này khá cứng nhắc, đặc biệt khi xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng. Trong khi đó, theo điểm i khoản 4 Điều 62 Luật TPNCTN năm 2024, Tòa án có quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, mặc dù trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đề nghị áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng. Điều này có nghĩa Tòa án có quyền quyết định áp dụng một biện pháp XLCH nghiêm khắc hơn (biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng) so với đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, nhưng không được quyền quyết định ngược lại. So sánh với thủ tục tố tụng hình sự thông thường có thể thấy, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi “chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can hoặc bị cáo ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố”[9]. Ngay cả khi áp dụng thủ tục tố tụng hình sự, pháp luật yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án nếu xét thấy điều đó là có lợi hơn cho bị can, bị cáo nói chung. Do đó, quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật TPNCTN năm 2024 bắt buộc trong mọi trường hợp Tòa án phải trả hồ sơ cho cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng khi không chấp nhận đề nghị của những cơ quan này là chưa hợp lý. Trong trường hợp này nếu chưa có kế hoạch XLCH để làm căn cứ cho Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng thì có thể tạm ngừng phiên họp và yêu cầu người làm công tác xã hội bổ sung kế hoạch XLCH.
2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Thứ nhất, cần có hướng dẫn chi tiết một số quy định của Luật TPNCTN năm 2024, có thể kết hợp giải thích quy định “trừ trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản” tại khoản 1 Điều 52 Luật TPNCTN năm 2024. Theo đó, giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là việc Tòa án giải quyết đơn yêu cầu của các bên liên quan về vấn đề này khi họ không thỏa thuận được. Giải quyết vấn đề tịch thu tài sản là việc Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 BLHS năm 2015 và biện pháp xử lý vật chứng theo khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Thứ hai, thay thế từ “thông báo” tại khoản 1 Điều 55 Luật TPNCTN năm 2024 bằng từ “quyết định” để tương xứng với tính chất quan trọng của thủ tục XLCH. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định tại điểm h khoản 1 Điều 56 Luật TPNCTN năm 2024 (quyết định về việc áp dụng biện pháp XLCH) theo hướng: “Trường hợp không áp dụng thì ra quyết định hủy quyết định áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng”. Trên cơ sở đó, cần bổ sung quyền khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục XLCH cho những chủ thể có liên quan.
Thứ ba, cần xác định rõ giai đoạn tố tụng muộn nhất, có thể xem xét áp dụng biện pháp XLCH đối với NCTN phạm tội. Theo quan điểm của nhóm tác giả, quyết định về việc áp dụng biện pháp XLCH là một trong nhiều loại quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào quy định tại Điều 360 BLTTHS để xét lại quyết định này. Như vậy, về lý thuyết biện pháp XLCH có thể được xem xét, áp dụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Trên cơ sở đó, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn, nên bổ sung vào Luật TPNCTN năm 2024 một điều luật quy định cụ thể về thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định áp dụng biện pháp XLCH của Tòa án cấp sơ thẩm.
Thứ tư, bổ sung quy định tại điểm h khoản 1 Điều 56 Luật TPNCTN năm 2024 (liền sau quy định đã nêu trong kiến nghị thứ hai) theo hướng: “Trong quá trình giải quyết vụ án bằng thủ tục tố tụng hình sự, sự tham gia và chấp nhận trách nhiệm của NCTN tại phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp XLCH không được sử dụng làm chứng cứ để cho rằng họ đã nhận tội”.
Thứ năm, bổ sung quy định tại điểm c khoản 4 Điều 60 Luật TPNCTN năm 2024 theo hướng cho phép cơ quan tiến hành tố tụng có thể hoãn phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp XLCH trong trường hợp người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 64 Luật TPNCTN năm 2024 để đảm bảo sự đồng bộ với khoản 1 Điều 55 Luật này. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng, Thẩm phán phải ra thông báo về việc áp dụng thủ tục XLCH trước khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Thứ bảy, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 68 Luật TPNCTN năm 2024 về trường hợp Tòa án không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Theo đó, khi xét thấy NCTN thuộc trường hợp áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng thì Tòa án tạm ngừng phiên họp và đề nghị người làm công tác xã hội xây dựng kế hoạch XLCH. Sau khi nhận được kế hoạch XLCH, Tòa án tiếp tục phiên họp theo quy định của pháp luật. Kiến nghị này dựa trên cơ sở tham khảo khoản 6 Điều 151 Luật TPNCTN năm 2024 (Thủ tục xét xử thân thiện), cho phép Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa và đề nghị người làm công tác xã hội xây dựng hoặc bổ sung kế hoạch XLCH.
Lê Huỳnh Tấn Duy - Lê Bá Đức
------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Committee on the Rights of the Child (2019), General comment No. 24 on children’s rights in the child justice system.
2. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), “Góp ý quy định của Dự thảo Luật tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (489).
3. ECOSOC (2002), Basic Principles on the Use of Restorative Justice Programmes in Criminal Matters.
4. Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà, “Luật tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế đường lối của Đảng, cụ thể hóa hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17/2024.
5. General Assembly resolution 40/33 of 29 November 1985, United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice (“The Beijing Rules”).
[1] General Assembly resolution 40/33 of 29 November 1985, United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice (“The Beijing Rules”).
[2] Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà, “Luật tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế đường lối của Đảng, cụ thể hóa hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17/2024, tr. 26-27.
[3] Điều 10 Luật TPNCTN năm 2024.
[4] Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[5] Điểm h khoản 1 Điều 56 Luật TPNCTN năm 2024.
[6] ECOSOC (2002), Basic Principles on the Use of Restorative Justice Programmes in Criminal Matters.
[7] Committee on the Rights of the Child (2019), General comment No. 24 on children’s rights in the child justice system.
[8] Lê Huỳnh Tấn Duy, “Góp ý quy định của Dự thảo Luật tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10(489)/2024, tr.21.
[9] Điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.