Vướng mắc trong việc xử lý đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Ngày đăng : 18:45, 09/02/2026
1. Vướng mắc trong việc xử lý đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) quy định về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại Điều 341. Tuy nhiên, quy định trên còn định tính, việc sử dụng con dấu, tài liệu giả nhằm mục đích thực hiện hành vi trái pháp luật sẽ bị coi là tội phạm mà không quy định cụ thể hành vi trái pháp luật ở mức độ nào hoặc như thế nào sẽ bị coi là nguy hiểm cho xã hội và cần phải xử lý hình sự. Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính cũng có quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; chẳng hạn, khoản 4 Điều 17 Nghị định số 79/2015/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp giả, Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp… Chính vì vậy, đối với các hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức hiện nay không có cơ sở thống nhất để xác định hành vi nào đến mức xử lý hình sự, hành vi nào chỉ bị xử phạt hành chính. Quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, các cơ quan tố tụng căn cứ vào khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015, đánh giá hành vi nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội để xử lý hình sự, tuy nhiên việc đánh giá phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của người tiến hành tố tụng.
Thứ hai, đối với đối tượng có hành vi đặt mua trên mạng hoặc thuê người khác làm giả con dấu, tài liệu sau đó sử dụng nhằm mục đích thực hiện hành vi trái pháp luật thì việc xử lý hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, trong trường hợp này, đối tượng có hành vi đặt mua hoặc thuê người khác làm giả con dấu, tài liệu sau đó sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật thì chỉ bị xử lý về hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức bởi ý thức chủ quan của người đặt mua, làm giả con dấu, tài liệu đó là nhằm mục đích để sử dụng, giữa người đặt mua và người trực tiếp làm ra con dấu, tài liệu giả không có mối quan hệ, không có thỏa thuận trước về việc mỗi người sẽ thực hiện một công đoạn trong việc làm ra tài liệu giả để bán lại cho người khác và mục đích của 02 đối tượng này đều hoàn toàn khác nhau. Một bên làm giả theo yêu cầu để bán lại cho người mua nhằm hưởng lợi, một bên cung cấp thông tin, trả tiền cho người làm để mua tài liệu giả theo đúng yêu cầu của mình về nhằm mục đích sử dụng; chính vì vậy không thể xác định là đồng phạm để xử lý người mua con dấu, tài liệu giả về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngày 27/4/2021, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7), Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Công văn số 1648/VKSTC-V7 giải đáp vướng mắc trong giải quyết vụ án hình sự, tại mục 2 của Công văn nêu rõ: “… Trường hợp không xác định được người trực tiếp làm giả mà chỉ sử dụng thì xử lý Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”… Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử cũng hướng dẫn nội dung tương tự với tình huống người có hành vi cung cấp thông tin, nhờ người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật. Theo hướng dẫn tại mục 2, phần I của Công văn này thì: “Trường hợp bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà chỉ có hành vi nhờ người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này, bị cáo phạm tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mà không cấu thành Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, cũng trên cơ sở phân tích các điều kiện đồng phạm tại Điều 17 BLHS năm 2015 thì quan điểm khác cho rằng, hành vi nêu trên đã đáp ứng đầy đủ các yếu tố về đồng phạm đối với người làm giả; do đó, cần phải xử lý người đặt làm giả, đặt mua con dấu, tài liệu giả cùng về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Thứ ba, bất cập trong áp dụng pháp luật để xử lý đối với đối tượng được xác định có hành vi làm giả con dấu, tài liệu, sau đó sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả đó để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Có quan điểm cho rằng, quy định về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại Điều 341 BLHS năm 2015 là tội kép được quy định trong cùng một điều luật. Nếu các hành vi của đối tượng đủ yếu tố cấu thành hai tội này thì đối tượng phải bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử với hai tội danh độc lập, sau đó tổng hợp hình phạt của từng tội[1]. Quan điểm khác cho rằng, trong trường hợp này người phạm tội chỉ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã thực hiện đó là Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và chỉ bị quyết định 01 hình phạt với tội danh này.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
Đối với việc xử lý hành vi làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm áp dụng pháp luật khác nhau, thường phát sinh tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, kháng nghị sửa bản án, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Nguyên nhân xuất phát từ việc quy định của pháp luật chưa rõ ràng, nhất quán, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan tố tụng hoặc của cùng cơ quan tố tụng nhưng ở những thời điểm khác nhau có sự khác biệt. Trên cơ sở các quy định pháp luật có liên quan và nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận của khoa học luật hình sự, tác giả nêu ra một số đề xuất áp dụng pháp luật như sau.
Một là, xác định những hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả đến mức độ nào thì được coi là tội phạm và cần thiết phải xử lý hình sự:
Theo khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015 thì những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là
tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác trong đó bao gồm cả biện pháp xử phạt hành chính. Tuy nhiên, hiện nay không có định nghĩa chung về thế nào là gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ xác định các hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thông qua việc liệt kê các hành vi, đôi khi là đi kèm với hậu quả do việc thực hiện hành vi đó gây ra được xác định là tội phạm. Việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội để xác định tội phạm phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của Nhà nước phù hợp với tình hình phát triển đất nước, phù hợp với văn hóa dân tộc trong từng thời kỳ. Để xác định cụ thể hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả nào sẽ bị coi là tội phạm và bị xử lý hình sự thì cần xem xét dựa trên việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi trái pháp luật được thực hiện bằng cách sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả, những hành vi trái pháp luật đó cùng với hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả trên thực tế gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc nhà nước trong trường hợp không được ngăn chặn kịp thời, thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội. Do đó, “hành vi trái pháp luật” được đề cập trong cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015 cần được hiểu bao gồm những hành vi được BLHS quy định, xâm phạm các khách thể mà BLHS bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 8 và từng chương cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS; đồng thời, những hành vi này đã gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nếu không bị ngăn chặn kịp thời. Nói cách khác, những “hành vi trái pháp luật” này là những hành vi khách quan trong mặt khách quan của từng tội phạm được BLHS quy định, tuy nhiên khi tách rời một cách độc lập khỏi hành vi làm giả thì sẽ chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm tại bất kỳ điều luật nào của BLHS (Ví dụ: Đối tượng có hành vi sử dụng giấy tờ giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản giá trị dưới 2.000.000 đồng). Trong trường hợp “hành vi trái pháp luật” này đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị xử lý theo điểm d khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 (sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng) hoặc điểm b khoản 3 Điều 341 BLHS năm 2015 (sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng).
Mặt khác, quá trình áp dụng pháp luật cũng cần lưu ý không thể suy diễn đối với hậu quả sẽ xảy ra khi có hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả mà phải căn cứ trên mục đích thực tế mà người có hành vi sử dụng hướng đến là nhằm mục đích gì, cụ thể là hành vi trái pháp luật phải rõ ràng có khả năng gây ra thiệt hại, hậu quả cho xã hội như sử dụng để thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con người…
Hai là, chỉ cần có hành vi làm giả đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bất kể mục đích làm giả:
Trên cơ sở quy định về đồng phạm tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 có thể thấy: Về mặt hành vi khách quan, người đặt làm giấy tờ giả có hành vi cung cấp thông tin và người trực tiếp làm giả con dấu, tài liệu khi thực hiện hành vi thì đều cố ý cùng nhau thực hiện tội phạm, trong đó vai trò của trực tiếp làm giả có thể dễ dàng xác định là người thực hành, còn đối với người đặt làm giả thì vai trò của họ là người xúi giục với hành vi thúc đẩy người thực hành thực hiện tội phạm bằng lợi ích vật chất, lợi ích khác. Ngoài ra, việc người đặt mua, đặt làm con dấu, tài liệu giả có hành vi cung cấp thông tin để người thực hành có thể thực hiện tội phạm làm giả con dấu, tài liệu giống với thực tế cũng thể hiện vai trò người giúp sức của họ, hành vi của những người này có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chung của tội phạm là tạo ra con dấu, tài liệu giả. Về mặt lý trí, cả người đặt làm giả, đặt mua con dấu, tài liệu giả và người trực tiếp làm giả con dấu, tài liệu đều nhận thức rõ hành vi làm giả là nguy hiểm cho xã hội và đều nhận thức được mình tham gia phạm tội với người khác, mặt dù người đặt mua, đặt làm giả không biết cụ thể có bao nhiêu người tham gia làm giả, thực hiện hành vi làm giả như thế nào, giữa những người này không có mối quan hệ gì, không có thỏa thuận gì trước về việc mỗi người sẽ thực hiện một công đoạn trong việc làm ra tài liệu giả để bán lại cho người khác. Tuy nhiên, Luật hình sự không đòi hỏi mỗi người phải biết được cụ thể về số lượng cụ thể và hành vi của những người đồng phạm khác mà chỉ cần họ nhận thức được có sự tham gia của người khác và hành vi của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, họ cùng phối hợp với nhau để thực hiện một tội phạm. Về mặt ý chí, giữa những người này đều có mong muốn tạo ra được con dấu, tài liệu giả. Mục đích của các đối tượng này dù hoàn toàn khác nhau, một bên làm giả theo yêu cầu để bán lại cho người mua nhằm hưởng lợi, một bên cung cấp thông tin, trả tiền cho người làm để mua tài liệu giả theo đúng yêu cầu của mình. Từ những phân tích trên, có thể thấy giữa người đặt mua, đặt làm giả và người trực tiếp làm giả có dấu hiệu của đồng phạm, về nguyên tắc đều phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tội phạm đã thực hiện. Do đó cần thống nhất nhận thức khởi tố, điều tra, truy tố đối với đối tượng đặt mua, đặt làm giả về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 BLHS
năm 2015.
Ngoài ra, quá trình xử lý đối với loại hành vi này cần phải chú ý thu thập đầy đủ chứng cứ xác định người đặt làm giả con dấu, tài liệu nhận thức được người được đặt làm giả có khả năng sẽ làm giả giấy tờ hay không, qua đó chứng minh lỗi cố ý gián tiếp, loại trừ trách nhiệm hình sự đối với việc người có hành vi đặt mua con dấu, tài liệu đã được làm sẵn từ trước mà không bao gồm hành vi cung cấp thông tin để làm giả và trường hợp người đặt mua, đặt làm có căn cứ chắc chắn để tin rằng con dấu, tài liệu mình đặt mua là thật.
Ba là, đối với trường hợp đối tượng được xác định có hành vi làm giả con dấu, tài liệu, sau đó sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả đó để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì nên nhận thức về hành vi làm giả là tiền đề, là điều kiện cho hành vi sử dụng tài liệu, con dấu giả; hành vi sử dụng tài liệu, con dấu giả mang tính kế tiếp, gắn bó chặt chẽ với hành vi làm giả con dấu, tài liệu. Mặc khác, tại điểm a khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về trường hợp hành vi có tính chất tương tự, cụ thể:
“… 4. Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau quy định các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 01 tội hay về nhiều tội độc lập đối với từng hành vi đã thực hiện. Khi quyết định hình phạt, Tòa án áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung, cụ thể như sau:
a) Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà những hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) đối với cùng nhiều đối tượng hay một đối tượng thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 01 tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện”. Ví dụ: Một người chế tạo vũ khí quân dụng rồi tàng trữ và đưa ra sử dụng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Có thể thấy, đối với những hành vi mà điều luật quy định về tội ghép, trong đó các hành vi trong cấu thành tội phạm có sự liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) như việc đối tượng làm giả sau đó sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật thì cần xác định tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện là Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và quyết định 01 hình phạt tương tự như hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự như trong hướng dẫn.
Đối với trường hợp đặt làm giả nhưng chưa sử dụng mà bị phát hiện thì nếu đủ căn cứ chứng minh ý định sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì cũng xử lý với tên tội danh đầy đủ là Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất hành vi sử dụng ở mức độ phạm tội chưa đạt để xử lý.
Nguyễn Thanh Sơn
[1]. Mục 2, phần 1 Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử.