Quy định chi tiết về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và xử lý bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Ngày đăng : 10:50, 03/02/2026
Quy định cụ thể về tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang đất ở
Theo Nghị định 50/2026/NĐ-CP, việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở được quy định cụ thể tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Việc tính tiền sử dụng đất được áp dụng một lần cho một hộ gia đình, cá nhân trên một thửa đất do người sử dụng lựa chọn. Nếu chuyển mục đích lần sau đối với thửa đất khác, tiền sử dụng đất sẽ được tính bằng 100% chênh lệch giữa giá đất ở và giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất (kể cả ở nhiều tỉnh, thành phố) thì chỉ được lựa chọn một thửa để áp dụng chính sách này, phải cam kết và chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Nếu bị phát hiện lợi dụng để hưởng chính sách nhiều lần, cơ quan có thẩm quyền sẽ chuyển thông tin đến cơ quan thuế để tính lại tiền sử dụng đất và thu thêm khoản tương đương mức chậm nộp tính từ ngày có quyết định chuyển mục đích.
Nghị định quy định rõ, việc tính số lần chuyển mục đích sử dụng đất, hạn mức giao đất ở, lựa chọn thửa đất được tính từ ngày 01/8/2024.
Giá đất để tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất là giá trong bảng giá đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định chi tiết Nghị quyết 254/2025/QH15 của Chính phủ, tính tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Hạn mức giao đất ở được xác định theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích, tính cho từng hộ gia đình, cá nhân; không phụ thuộc số thành viên trong hộ. Đối với trường hợp có chung quyền sử dụng đất, hạn mức được xác định theo đại diện được cử, hoặc tính riêng khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép tách thửa.
Việc thu, nộp, kiểm tra và quản lý tiền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP) và pháp luật về quản lý thuế.
![]() |
|
Ảnh minh họa. |
Quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được miễn, giảm và xử lý chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Nghị định 50/2026/NĐ-CP cũng làm rõ việc tính lại tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được miễn, giảm đối với tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thu tiền một lần để thực hiện dự án đầu tư có mục đích kinh doanh, nay chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Theo đó, các tổ chức này phải nộp lại cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được miễn, giảm, được tính theo chính sách tại thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng. Riêng giá đất được tính theo bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất tại thời điểm quyết định.
Ngoài ra, tổ chức còn phải nộp khoản bổ sung tính trên số tiền phải nộp, tương ứng với thời gian từ khi được miễn, giảm đến thời điểm chuyển nhượng hoặc góp vốn, theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và các nghị định hướng dẫn.
Đối với tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng trước, Nghị định quy định việc khấu trừ khoản chi phí này vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp được tính cho toàn bộ dự án, căn cứ theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp dự án được giao đất, cho thuê đất theo tiến độ đầu tư hoặc tiến độ thu hồi đất, việc tính toán và khấu trừ được thực hiện riêng cho từng quyết định giao đất, cho thuê đất. Trường hợp trong cùng một quyết định có nhiều hình thức sử dụng đất, việc xử lý bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo từng loại đất cụ thể.
Nghị định cũng quy định rõ, không áp dụng khấu trừ chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho phần thời gian sử dụng đất tăng thêm do được gia hạn hoặc điều chỉnh thời hạn sử dụng.
