Hoàn thiện chính sách hình sự đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế

Ngày đăng : 16:56, 24/12/2025

(Kiemsat.vn) - Chính sách hình sự hiện hành đối với các tội phạm kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong việc xử lý những hành vi vi phạm này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, đặc biệt là trong việc áp dụng hình phạt, cụ thể là chưa bảo đảm cơ chế, biện pháp xử lý linh hoạt cũng như mức hình phạt chưa đủ mạnh mẽ để răn đe, phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển mạnh mẽ, các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế ngày càng gia tăng với phương thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa và xử lý. Những hành vi phạm tội này không chỉ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế, mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.

Chính sách hình sự hiện hành đối với các tội phạm kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong việc xử lý những hành vi vi phạm này; tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, đặc biệt là trong việc áp dụng hình phạt, chưa bảo đảm cơ chế, biện pháp xử lý linh hoạt cũng như mức hình phạt chưa đủ mạnh mẽ để răn đe, phòng ngừa hiệu quả. Việc thiếu các cơ chế để khắc phục hậu quả trong suốt quá trình tố tụng, cũng như thiếu thống nhất trong mức hình phạt đối với các tội phạm kinh tế đã phần nào làm giảm hiệu quả công tác xử lý các tội phạm này. Do đó, cần có những nghiên cứu và điều chỉnh hợp lý về mức hình phạt, các biện pháp xử lý thay thế và các quy định liên quan để tăng cường tính răn đe và hiệu quả trong việc phòng ngừa, xử lý các tội phạm này. Việc hoàn thiện chính sách hình sự không chỉ góp phần bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, mà còn tạo ra một môi trường kinh tế an toàn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

2. Một số bất cập trong chính sách hình sự đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế

- Thiếu các cơ chế, biện pháp xử lý thay thế linh hoạt:

Chính sách hình sự hiện nay ở Việt Nam đang chủ yếu tập trung vào hình phạt tù đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc tập trung vào hình phạt tù đối với các tội phạm này làm giảm hiệu quả của thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt cũng như khắc phục hậu quả kinh tế do tội phạm gây ra. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, năm 2024, kết quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế là 9.211 vụ việc với hơn 22 nghìn tỉ đồng, trong đó có một số vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng với số tiền thu hồi cao. Tuy nhiên, giá trị tài sản phải thu hồi trong các vụ án tham nhũng, tiêu cực còn tồn đọng lớn. Đơn cử như vụ án xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại vận tải và du lịch Xuyên Việt Oil mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử cuối tháng 11/2024. Hội đồng xét xử xác định bị cáo Mai Thị Hồng Hạnh, Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Xuyên Việt Oil, cùng các đồng phạm đã vi phạm quy định của Nhà nước trong hoạt động đầu tư kinh doanh dẫn tới gây thiệt hại hơn 1.400 tỉ đồng; đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền nêu trên. Tuy nhiên, cho đến nay bị cáo Mai Thị Hồng Hạnh không có khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại[1].

Pháp luật Việt Nam chưa hoàn thiện các cơ chế linh hoạt để áp dụng các biện pháp xử lý thay thế một cách hệ thống, nên còn hạn chế lớn trong việc tối ưu hóa hiệu quả xử lý các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế. Việc không có quy định rõ ràng về việc cho phép áp dụng các biện pháp thay thế ngay từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố hoặc khi đang chấp hành án dẫn đến việc người phạm tội khó hoặc không chủ động hợp tác, tích cực khắc phục hậu quả thiệt hại hoặc nộp lại tài sản đã chiếm đoạt.

Trên thế giới, có nhiều quốc gia đang áp dụng các biện pháp xử lý linh hoạt, như thoả thuận nhận tội để đổi lấy sự khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt hoặc cho phép người phạm tội bồi thường để tránh bị truy tố hình sự, áp dụng các biện pháp xử lý thay thế[2]. Các biện pháp này tại nhiều quốc gia giúp tăng hiệu quả thu hồi tài sản, giảm tải cho hệ thống tư pháp và thúc đẩy việc khắc phục hậu quả thiệt hại[3].

- Thiếu quy định linh hoạt về chuyển đổi hình phạt:

Hiện nay, hình phạt tù đang được áp dụng chủ yếu đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế; đồng thời, việc áp dụng cơ chế chuyển đổi hình phạt từ hình phạt tù sang hình phạt tiền hoặc các hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù có thể là một công cụ hiệu quả để thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt chưa có các cơ chế chuyển đổi linh hoạt để áp dụng đối với loại tội phạm này. Hơn nữa, việc thiếu quy định linh hoạt về chuyển đổi hình phạt từ tù sang hình phạt tiền hoặc miễn, giảm nhẹ hình phạt tù đối với những người phạm tội đã tích cực khắc phục hậu quả làm giảm động lực hợp tác của họ. Nếu người phạm tội biết rằng họ có thể được miễn hoặc giảm nhẹ hình phạt nếu chủ động khắc phục hậu quả, đây có thể là động lực lớn thúc đẩy họ hoàn trả tài sản.

Trên thực tế, nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình này một cách hiệu quả. Chẳng hạn, Bộ luật Hình sự Đức (Strafgesetzbuch - StGB) cho phép những người phạm tội về kinh tế có thể nộp phạt thay vì chịu án tù trong một số trường hợp nhất định; cho phép thay thế án tù bằng hình phạt tiền trong nhiều trường hợp nhất định. Cụ thể, khi mức án tù không vượt quá sáu tháng, tòa án có thể thay thế bằng hình phạt tiền nếu xét thấy điều này phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Bên cạnh đó, theo Bộ luật Tố tụng Hình sự Đức (Strafprozessordnung - StPO), trong một số trường hợp nhất định, cơ quan công tố và Tòa án có thể quyết định đình chỉ vụ án nếu bị cáo đồng ý tuân thủ các điều kiện hoặc hướng dẫn nhất định, chẳng hạn như nộp một khoản tiền cho ngân sách nhà nước hoặc tổ chức từ thiện. Điều này cho phép tránh việc truy tố hình sự đầy đủ và khuyến khích người phạm tội hợp tác trong việc khắc phục hậu quả. Điều này không chỉ giúp giảm tải cho hệ thống nhà tù, cơ quan Thi hành án hình sự mà còn giúp nhà nước nhanh chóng thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Do đó, Việt Nam cần xem xét áp dụng cơ chế linh hoạt hơn trong việc lựa chọn hình phạt nhằm tối ưu hóa hiệu quả xử lý tội phạm kinh tế và chức vụ.

- Thời điểm cho phép khắc phục hậu quả còn bất cập:

Một trong những bất cập lớn trong chính sách hình sự của Việt Nam hiện nay là phạm vi và thời điểm cho phép người phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế khắc phục hậu quả còn hẹp, chưa bao quát đầy đủ các giai đoạn tố tụng cũng như cả trong giai đoạn chấp hành án. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chủ yếu khuyến khích việc khắc phục hậu quả trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu người phạm tội chưa có điều kiện hoàn trả tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố mà đến sau khi đã bị kết án hoặc đang thi hành án mới có khả năng hoàn trả hoặc có mong muốn hoàn trả tài sản, thì lại thiếu cơ chế pháp lý, chính sách khoan hồng phù hợp để xem xét một cách linh hoạt nhằm tạo động lực cho họ tiếp tục hợp tác khắc phục hậu quả. Điều này vừa làm giảm hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, vừa khiến người phạm tội ít hợp tác sau khi bản án đã có hiệu lực. Nếu không có quy định mở rộng phạm vi xử lý thay thế trong giai đoạn chấp hành án, hệ thống pháp luật hình sự sẽ thiếu đi sự linh hoạt cần thiết, làm giảm hiệu quả của chính sách thu hồi tài sản và công lý phục hồi[4]. Do đó, cần có những điều chỉnh trong chính sách hình sự, cho phép người bị kết án khi đang chấp hành hình phạt vẫn có thể tiếp tục khắc phục hậu quả, hoàn trả tài sản và được hưởng các chính sách khoan hồng phù hợp, chẳng hạn như giảm thời gian thi hành án, chuyển đổi hình phạt hoặc miễn hình phạt còn lại khi đã bồi thường toàn bộ. Việc mở rộng phạm vi này sẽ khuyến khích tối đa sự hợp tác của người phạm tội, đồng thời nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt hoặc thất thoát.

- Mức hình phạt chưa bảo đảm đồng nhất, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; chưa bảo đảm tính răn đe đối với một số tội phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhất là đối với các tội phạm gây tổn hại lớn đến nền kinh tế:

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015) đã có các quy định xử lý đối với tội phạm kinh tế, nhưng mức hình phạt hiện nay vẫn tồn tại nhiều bất cập, nhất là sự thiếu nhất quán giữa các loại tội phạm kinh tế hoặc giữa tội phạm về kinh tế với loại tội phạm khác cũng như hình phạt chưa phù hợp giữa hình phạt với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cụ thể:

Thứ nhất, một trong những bất cập lớn trong chính sách xử lý tội phạm kinh tế hiện nay là sự chưa nhất quán về mức hình phạt giữa các loại tội phạm có tính chất và hậu quả tương đồng. Cụ thể như: (i) Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211 BLHS) có khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù, trong khi đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) có thể bị phạt tù đến 20 năm hoc tù chung thân, mặc dù cả hai tội này đều có thể gây thiệt hại hàng nghìn tỉ đồng; (ii) Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 222 BLHS) có mức hình phạt tối đa là 20 năm tù, trong khi một số hành vi vi phạm nghiêm trọng khác trong lĩnh vực tài chính như cố ý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán (Điều 209 BLHS) chỉ có mức án tối đa 05 năm tù, dù hành vi này có thể gây thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế.

Thứ hai, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập trong việc xử lý các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế, nhất là tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên, chứng khoán... Điều này làm giảm hiệu quả răn đe, gây hậu quả thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nền kinh tế. Mặc dù BLHS đã quy định các chế tài cụ thể nhằm xử lý đối với tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên và chứng khoán, nhưng khung hình phạt hiện hành vẫn còn thấp so với mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Cụ thể như Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227 BLHS năm 2015) dù gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trường, làm thất thoát tài nguyên quốc gia nhưng mức phạt tù cao nhất chỉ đến 07 năm và mức phạt tiền tối đa 03 tỉ đồng (đối với pháp nhân) trong khi mức tiền bị thiệt hại cho nền kinh tế có thể lên đến trăm tỷ đồng, thậm chí có thể lên đến hàng nghìn tỉ đồng[5]. Trong khi đó, hành vi này có thể gây thất thoát hàng trăm đến hàng nghìn tỉ đồng, hủy hoại môi trường lâu dài. Hay các tội phạm về chứng khoán (Điều 209 đến Điu 212 BLHS năm 2015): Hiện nay, các hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch, thao túng chứng khoán, sử dụng thông tin nội bộ để trục lợi gây rủi ro lớn cho thị trường tài chính nhưng mức phạt tù cao nhất chỉ 05 đến 07 năm và mức phạt tiền đối với pháp nhân cũng chỉ từ 02 đến 10 tỉ đồng. Trong khi đó, trên thực tế, có những vụ việc thao túng thị trường chứng khoán gây thiệt hại lên đến hàng nghìn tỉ đồng nhưng mức hình phạt chưa tương xứng[6]...

Quy định mức phạt không đủ sức răn đe dẫn đến hệ quả thực tế các cá nhân, tổ chức vẫn có thể chấp nhận rủi ro thực hiện hành vi phạm tội vì lợi ích kinh tế quá lớn. Điều này làm gia tăng các hành vi vi phạm, gây mất niềm tin vào thị trường tài chính và có tác động ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến nền kinh tế.

3. Một số đề xuất hoàn thiện chính sách đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế

- Cần sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với tội phạm kinh tế, chức vụ liên quan đến kinh tế:

Trong bối cảnh tình hình các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế ngày càng phức tạp, một trong những giải pháp quan trọng trong việc cải cách chính sách hình sự đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ liên quan đến kinh tế là tăng cường các biện pháp xử lý thay thế, miễn hình phạt, chuyển đổi hình phạt đối với người phạm tội nếu họ tích cực hợp tác, chủ động khắc phục hậu quả, hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt. Đây là một biện pháp không chỉ giúp giảm tải cho hệ thống tư pháp mà còn nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt, cụ thể:

Một là, mở rộng phạm vi, thời điểm xử lý thay thế, theo đó, có thể áp dụng cả ở trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và giai đoạn đang chấp hành án để khuyến khích tối đa người phạm tội khắc phục hậu quả, hoàn trả tài sản nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt.

Hai là, bổ sung quy định hình phạt tiền bên cạnh hình phạt tù để lựa chọn, quyết định chuyển đổi hình phạt; giảm mức hình phạt tù hoặc miễn hình phạt đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng đã chủ động khắc phục hậu quả.

- Tăng mức hình phạt đối với một số tội phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhất là đối với các tội phạm gây tổn hại lớn đến nền kinh tế:

Để tăng cường tính răn đe và bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, cần thiết phải nghiên cứu và đề xuất điều chỉnh mức hình phạt đối với những tội phạm có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là các hành vi phạm tội trong các lĩnh vực kinh tế có thể gây thiệt hại lớn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.

Những tội phạm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp, cá nhân mà còn tác động sâu rộng đến môi trường đầu tư, sự ổn định của thị trường tài chính và các hoạt động kinh tế khác. Theo đó, đề xuất nghiên cứu, tăng hình phạt đối với các tội phạm gây hậu quả đặc biệt lớn, như: Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227); các tội phạm liên quan đến chứng khoán như: Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209); Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211); Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212)... Qua đó bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần phòng ngừa và xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm có nguy cơ gây tổn hại lớn đến nền kinh tế

- Điều chỉnh mức hình phạt đối với các tội phạm về kinh tế theo hướng bảo đảm phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và tính đồng nhất về mức hình phạt giữa các tội phạm cụ thể:

Để tạo sự công bằng và minh bạch trong công tác xử lý các tội phạm về kinh tế, việc sửa đổi, bổ sung mức hình phạt cần phải đảm bảo tính phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của từng tội phạm. Việc phân loại tội phạm và mức độ xử lý phải được thực hiện một cách chặt chẽ và đồng nhất để tránh tình trạng bất hợp lý trong việc xử lý các hành vi phạm tội, từ đó giúp pháp luật thực sự có tính răn đe và mang lại hiệu quả cao trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các tội phạm kinh tế. Cụ thể, mức hình phạt đối với các tội phạm kinh tế cần phải được xem xét theo từng trường hợp, bảo đảm sự phù hợp với hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Các tội phạm có mức độ thiệt hại lớn, tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc gia, cần phải áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn. Bên cạnh đó, cần có sự thống nhất trong việc áp dụng hình phạt đối với các tội phạm kinh tế nhằm đảm bảo công bằng và tránh việc hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Việc này sẽ giúp hệ thống pháp luật về tội phạm kinh tế trở nên minh bạch, hiệu quả và tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội.

Phạm Hải Anh


[1]. Xem: https://nhandan.vn/hoan-thien-co-che-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-post849206.html, truy cập ngày 17/3/2025.

[2]. Theo Báo cáo nghiên cứu chế định “thỏa thuận nhận tội” của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam của PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh và TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi: Tỉ lệ áp dụng “thỏa thuận nhận tội” ở một số quốc gia: 90% các vụ án hình sự ở Hoa Kỳ được giải quyết bằng “thỏa thuận nhận tội”. Bulgaria đã áp dụng thủ tục “thỏa thuận nhận tội” với khoảng 36,6% trường hợp (thống kê từ năm 2000 đến năm 2005). Trong nửa đầu năm 2000, 22% số người phạm tội và 52% trọng tội đã được giải quyết ở tỉnh Buenos Aires của Argentina bằng cách sử dụng thủ tục “thỏa thuận nhận tội”. Ở Tây Ban Nha, người ta đã ước tính rằng từ 15 đến 30% các trường hợp được giải quyết bởi thủ tục “thỏa thuận nhận tội”...

[3]. Báo cáo nghiên cu “Plea Bargain Dilemma, Financial Crime and Asset Recovery” năm 2023 đăng tải trên tạp chí “Journal of Money Laundering Control” của nhóm tác giả Muhammad Saleem Korejo, Ramalinggam Rajamanickam, Muhamad Helmi Md Said và Erum Naseer Korejo nghiên cứu về những vấn đề đạo đức và pháp lý liên quan đến thỏa thuận nhận tội trong việc xử lý tội phạm tài chính và thu hồi tài sản đã phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật liên quan tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pakistan và Nigeria và thực tiễn thi hành. Báo cáo kết luận rằng thỏa thuận nhận tội là công cụ hiệu quả trong việc thu hồi tài sản bị thất thoạt, chiếm đoạt và khắc phục hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra, đồng thời giảm tải đáng kể cho hệ thống tư pháp.

[4]. Xem:https://kiemsat.vn/su-phat-trien-cua-cong-ly-phuc-hoi-o-chau-au-va-lien-he-voi-viet-nam-65594.html

[5]. Như: Vụ án Công ty Thái Dương khai thác trái phép đất hiếm, gây thất thoát cho Nhà nước hơn 736 tỉ đồng, các bị cáo bị truy tố về tội vi phạm quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên (nguồn: https://vnexpress.net/cuu-thu-truong-gay-that-thoat-736-ty-dong-trong-vu-khai-thac-dat-hiem-4859441.html).

[6]. Như: Vụ án xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC liên quan đến hành vi thao túng thị trường chứng khoán với 51 bị cáo thu lợi bất chính 723.000 tỉ đồng (nguồn: https://vtv.vn/phap-luat/vu-thao-tung-thi-truong-chung-khoan-cua-flc-co-so-ho-trong-quan-ly-nha-nuoc-20240302180814173.htm).

Theo Tạp chí Kiểm sát in số 08/2025