Xu hướng phát triển của chế định chứng minh trong tố tụng hình sự
Ngày đăng : 14:43, 28/11/2025
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và một trong những yêu cầu của nền tư pháp trong bối cảnh mới là tăng cường ứng dụng công nghệ và bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự.
Pháp luật tố tụng hình sự là lĩnh vực chịu sự tác động trực tiếp nhất của các yêu cầu nói trên, trong đó có việc hoàn thiện chế định chứng minh.
1. Khái quát về chế định chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự
Chứng minh là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự, với ý nghĩa là phương thức xác định sự thật khách quan của vụ án. Đó là tổng hợp các hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án, qua đó, xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Chế định chứng minh bao gồm các nội dung chính như đối tượng chứng minh, nghĩa vụ chứng minh và quá trình chứng minh.
Trong tố tụng hình sự, đối tượng chứng minh là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ để giải quyết đúng đắn vụ án. Những vấn đề cần chứng minh được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015) là những vấn đề mà khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm rõ để góp phần giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn, khách quan và toàn diện.
Về nghĩa vụ chứng minh, việc làm sáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội[1]. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để chứng minh, xác định sự thật một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội. Việc thành khẩn khai báo của họ được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, song việc từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối không bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với họ[2].
Quá trình chứng minh là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật của vụ việc, vụ án. Quá trình chứng minh gồm các bước như thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Thu thập chứng cứ là hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ. Thẩm quyền thu thập chứng cứ thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp theo quy định của BLTTHS. Người bào chữa cũng có quyền thu thập chứng cứ. Người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
Kiểm tra, đánh giá chứng cứ là hoạt động của người tiến hành tố tụng và người bào chữa xem xét chứng cứ đã thu thập có bảo đảm tính xác thực, tính hợp pháp và tính liên quan không, chứng cứ đã đủ để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ chưa. Nếu có nghi ngờ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể thực hiện các biện pháp do BLTTHS quy định để kiểm tra chứng cứ. Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ trước hết thuộc trách nhiệm của cơ quan đã thu thập chứng cứ. Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn thực hiện việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ do các cơ quan khác đã thu thập được qua từng giai đoạn tố tụng, tiến hành các biện pháp tố tụng theo luật định để khắc phục các mâu thuẫn, thiếu sót về chứng cứ (nếu có)[3].
Sử dụng chứng cứ là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra các quyết định tố tụng giải quyết vụ án dựa trên cơ sở kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra đánh giá để đưa ra các nhận định, kết luận, quyết định cụ thể để giải quyết vụ án trên cơ sở thẩm quyền, chức năng tố tụng của mình.
2. Những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Điều này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải có cách tiếp cận linh hoạt, hiện đại, đảm bảo tính chính xác, khách quan và phù hợp với xu hướng tư pháp toàn cầu. Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự trong thời đại mới đang đứng trước các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, phải phù hợp với sự phát triển của chứng cứ trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ. Chứng cứ được coi là phương tiện của quá trình chứng minh, vì vậy mọi thay đổi liên quan đến chứng cứ đều ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến chế định chứng minh. Một trong những diễn biến quan trọng về chứng cứ hiện nay đó là xu hướng mở rộng ngoại diên của khái niệm chứng cứ, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ. Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định chứng cứ bao gồm tài liệu, đồ vật, lời khai, dữ liệu điện tử; tuy nhiên khái niệm “dữ liệu điện tử” bao gồm “ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử” chưa bao quát hết những loại chứng cứ điện tử mới xuất hiện trong đời sống thực tiễn như dữ liệu blockchain, dữ liệu trí tuệ nhân tạo…; từ đó, đòi hỏi việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ cần có những nghiên cứu đổi mới để phù hợp.
Thứ hai, xu hướng tăng cường ứng dụng công nghệ trong giải quyết vụ án hình sự. Trí tuệ nhân tạo đang ngày càng phát triển vượt bậc, hứa hẹn hỗ trợ đắc lực cho các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có tư pháp hình sự. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khoa học, công nghệ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phần mềm phân tích dữ liệu trong giải quyết vụ án hình sự có thể hỗ trợ kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhanh chóng, chính xác hơn. Từ đó cho thấy, tăng cường ứng dụng công nghệ trong giải quyết vụ án hình sự đang trở thành một xu thế tất yếu.
Thứ ba, áp dụng triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội và tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền con người. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã khẳng định việc “hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân” là một nội dung trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến lĩnh vực tư pháp. Do đó, nguyên tắc suy đoán vô tội cần được thực hiện triệt để, tránh tình trạng lạm dụng quyền lực trong giải quyết vụ án hình sự.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động chứng minh. Trong bối cảnh tội phạm có tính chất quốc tế, tội phạm mạng, tội phạm rửa tiền ngày càng diễn biến phức tạp, hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự đang đối diện với các thách thức lớn. Các cơ quan tố tụng trong nước phải hợp tác nhiều hơn với các tổ chức thực thi pháp luật khu vực và quốc tế, tuân thủ các công ước quốc tế để tăng cường hiệu quả thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đặc biệt là chứng cứ điện tử trong quá trình chứng minh.
3. Định hướng phát triển của chế định chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự trong kỷ nguyên mới
Trước các xu thế trên, chế định chứng minh trong BLTTHS cần được hoàn thiện theo hướng sau đây nhằm đáp ứng các yêu cầu trong kỷ nguyên mới:
Một là, hoàn thiện quy trình thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ điện tử để phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện đại. Cần bổ sung quy trình thu thập chứng cứ điện tử là dữ liệu blockchain, dữ liệu trí tuệ nhân tạo; xây dựng các tiêu chí, quy trình, thủ tục bảo quản dữ liệu điện tử để đảm bảo tính nguyên vẹn; quy định trách nhiệm của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong việc bảo mật chứng cứ số, tránh rò rỉ dữ liệu, bị sửa đổi hoặc đánh cắp. Cần có quy định cụ thể về quyền truy cập, trình tự, thủ tục yêu cầu chặn, thu dữ liệu điện tử trên đường truyền, trách nhiệm của cơ quan ra lệnh chặn thu cũng như các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan; trình tự, thủ tục sao lưu, phương tiện, phần mềm dùng để sao lưu, phương tiện dùng để lưu trữ dữ liệu điện tử; quy định cụ thể về phục hồi dữ liệu điện tử; thu thập dữ liệu điện tử từ các nguồn khác[4], sớm ban hành tiêu chuẩn áp dụng với dữ liệu blockchain, dữ liệu trí tuệ nhân tạo để bảo đảm quá trình thu thập và xử lý dữ liệu diễn ra hợp pháp, làm căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng chấp thuận hoặc từ chối khi đánh giá, sử dụng các chứng cứ là dữ liệu điện tử[5]. Đồng thời, cần nghiên cứu để sớm thành lập cơ quan chuyên trách về phân tích dữ liệu điện tử trong tố tụng. Có thể giao cho cơ quan này nhiệm vụ giám định, đánh giá chứng cứ điện tử, xác minh, phục hồi và phân tích chứng cứ từ thiết bị điện tử; ứng dụng AI trong nhận dạng giọng nói, hình ảnh, phân tích dữ liệu lớn; kết nối với các cơ quan thực thi pháp luật của quốc gia khác trong trao đổi thông tin về chứng cứ điện tử...
Hai là, mở rộng phạm vi chứng minh của CQĐT đối với việc áp dụng các biện pháp tố tụng có tính chất cưỡng chế. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng tập trung chủ yếu vào làm rõ sự thật khách quan của vụ án và những tình tiết khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội[6]. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên mới, khi yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân càng được đẩy mạnh thì việc làm rõ tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc áp dụng các biện pháp điều tra cũng là vấn đề cần phải chứng minh. Ngay từ giai đoạn điều tra, cần thiết phải mở rộng phạm vi chứng minh của CQĐT đối với sự hợp lý, hợp pháp của việc áp dụng các biện pháp điều tra có sự hạn chế quyền con người, quyền công dân (như bắt, giam, giữ, khám xét…). Tính có căn cứ thể hiện ở chỗ các biện pháp đó chỉ được áp dụng khi có căn cứ quy định trong BLTTHS, tính hợp lý cho thấy các biện pháp được thực hiện là cần thiết, khách quan, phù hợp với các tình tiết của vụ án. Việc áp dụng biện pháp điều tra phải đảm bảo được sự cân bằng giữa mục đích giải quyết vụ án với yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, tránh tùy tiện hoặc lạm dụng. Các yếu tố này không chỉ được chứng minh trong hồ sơ của CQĐT đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn mà còn phải được thể hiện trong bản kết luận điều tra. Điều này phù hợp với thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, nhận định về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử[7]. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng phạm vi chứng minh của CQĐT thì pháp luật tố tụng hình sự cũng cần mở rộng phạm vi xem xét của Tòa án không chỉ đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên mà còn đối với các lệnh, quyết định tố tụng do CQĐT ban hành.
Đối với Tòa án, khi xét hỏi tại phiên tòa, việc chứng minh của Hội đồng xét xử không chỉ tập trung vào hỏi đáp để kiểm tra chứng cứ đã thu thập được mà cần chú trọng yêu cầu các bên trình bày, đưa ra quan điểm về các tình tiết của vụ án, từ đó có thêm căn cứ để kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Nội dung xét hỏi không chỉ đơn thuần chỉ là việc hỏi - đáp mà còn bao gồm việc các bên chủ động trình bày quan điểm, ý kiến, chứng cứ để bảo vệ lợi ích của mình. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, tại phiên tòa, người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến, đề nghị, yêu cầu; tuy nhiên, trên thực tế, thủ tục này chưa thực sự được chú trọng. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý để người tham gia tố tụng được chủ động thể hiện ý kiến, đề nghị làm rõ chứng cứ ngay trong phần xét hỏi, bởi việc đưa ra quan điểm, lập luận của họ trong phần tranh luận chủ yếu xoay quanh hướng giải quyết vụ án, trên cơ sở các chứng cứ đã được làm rõ ở phần xét hỏi. Nếu ngay trong thủ tục xét hỏi, Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng, đặc biệt là người buộc tội được trình bày ý kiến, quan điểm về chứng cứ thay vì thụ động trả lời thì sẽ tăng cường sự tương tác của người tham gia tố tụng vào quá trình chứng minh, nâng cao tính khách quan, công bằng và tạo sự tiếp cận đa chiều trong chứng minh.
Ba là, tăng cơ hội tiếp cận chứng cứ cho người bị buộc tội và người bào chữa trong quá trình chứng minh. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, bị can, người bào chữa được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu; người bào chữa được đọc, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra. Tuy nhiên, đối với các chứng cứ điện tử tồn tại dưới hình thức dữ liệu số, cần bổ sung cách thức tiếp cận chứng cứ của các chủ thể này để đảm bảo quyền bào chữa của họ. Cùng với việc tăng cơ hội tiếp cận chứng cứ cho bên bị buộc tội và bào chữa, BLTTHS cũng cần quy định cơ chế để ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa trong việc phải giao nộp ngay và đầy đủ chứng cứ đã thu thập được cho cơ quan tiến hành tố tụng. Việc không quy định người bào chữa có nghĩa vụ giao nộp ngay chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dẫn đến không ít khó khăn trong việc xem xét tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của các tài liệu, đồ vật do người bào chữa thu thập. Vì vậy, cần quy định rõ thời hạn người bào chữa phải chuyển giao tài liệu, đồ vật đã thu thập được cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đưa vào hồ sơ vụ án; đồng thời, khi tiếp nhận chứng cứ do người bào chữa cung cấp, Điều tra viên phải kịp thời thông báo cho Kiểm sát viên, nếu chứng cứ gỡ tội có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì phải thông báo ngay[8].
Bốn là, tăng cường các công cụ kiểm tra chứng cứ liên quan đến công nghệ và xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp. Việc áp dụng các công cụ công nghệ hiện đại như phần mềm phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hoặc các công nghệ xác minh hình ảnh có thể hỗ trợ tích cực cơ quan tiến hành tố tụng trong việc kiểm tra chứng cứ, đặc biệt đối với chứng cứ là dữ liệu điện tử. Các lĩnh vực mà trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ cơ quan tố tụng đánh giá chứng cứ có thể kể đến như phân tích tài liệu, văn bản pháp luật, chứng cứ tồn tại dưới hình thức văn bản bằng việc quét, nhận diện, phân tích, so sánh, phát hiện những điểm bất thường hoặc mâu thuẫn; so sánh, nhận dạng chữ viết, giọng nói và dấu vết sinh học; phân tích video, hình ảnh, dữ liệu điện tử và xác định các “dấu vết số”, từ đó phát hiện sai sót hoặc điểm bất thường. Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, đánh giá chứng cứ có thể rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, nhanh chóng làm sáng tỏ các nghi vấn bằng phương pháp khoa học với độ chính xác cao về kỹ thuật. Vì vậy, ứng dụng công nghệ vào quá trình chứng minh là xu thế tất yếu. Pháp luật tố tụng hình sự cần bổ sung các thủ tục, trình tự sử dụng trí tuệ nhân tạo trong thu thập, kiểm tra chứng cứ; đồng thời, xây dựng cơ chế pháp lý để kiểm soát việc sử dụng trí tuệ nhân tạo vào quá trình chứng minh, vừa phát huy tối đa những giá trị tích cực của công nghệ và đảm bảo kiểm soát được những sai sót về kỹ thuật hoặc sự tác động tiêu cực của con người trong quá trình sử dụng.
Năm là, xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế chặt chẽ trong thu thập chứng cứ trong giải quyết các vụ án hình sự. Trong bối cảnh tình hình tội phạm xuyên quốc gia như hiện nay, Việt Nam cần tăng cường hợp tác với Interpol, Europol, Aseanapol trong thu thập chứng cứ số. Các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như tội phạm kinh tế, tội phạm ma túy, khủng bố, rửa tiền… đều để lại dấu vết trên các nền tảng số, trong khi đó các nền tảng công nghệ lớn như Google, Facebook, Apple đều đặt máy chủ dữ liệu tại Mỹ hoặc các quốc gia khác. Để giải quyết được vụ án, cơ quan tư pháp của Việt Nam cần có sự chia sẻ dữ liệu của các nền tảng công nghệ lớn. Nếu không có sự hợp tác giữa các quốc gia và các nền tảng công nghệ, việc truy vết tội phạm, xác định danh tính, theo dõi giao dịch bất hợp pháp... gần như không thể thực hiện được. Vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự cũng cần hoàn thiện cơ chế hợp tác quốc tế với cơ quan tư pháp các quốc gia trong vấn đề thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử; xây dựng quy định rõ ràng về thu thập, chuyển giao và sử dụng chứng cứ, cơ chế thẩm tra và xác thực để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của chứng cứ thu thập từ nước ngoài. Đồng thời, Luật an ninh mạng năm 2018 của Việt Nam cũng cần bổ sung quy định các nền tảng công nghệ phải lưu trữ dữ liệu người dùng Việt Nam và có nghĩa vụ cung cấp thông tin khi nhận được yêu cầu hợp pháp.
Tóm lại, chế định chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu đổi mới. Việc hoàn thiện chế định chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự theo hướng hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền con người là xu hướng tất yếu, nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động tư pháp nói riêng, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung trong kỷ nguyên mới.
Bùi Thị Hạnh
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Tiến Hùng, “Một số vấn đề đặt ra trong việc thu thập, tiếp nhận chứng cứ do người bào chữa thu thập, giao nộp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, https://vksnd.gialai.gov.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/mot-so-van-de-dat-ra-trong-viec-thu-thap-tiep-nhan-chung-cu-do-nguoi-bao-chua-thu-thap-giao-nop-trong-giai-doan-dieu-tra-vu-an-hinh-su-1844.html, truy cập ngày 02/3/2025.
3. Trần Thanh Phước, “Một số trao đổi về thu thập dữ liệu điện tử, phương tiện điện tử theo quy định của BLTTHS năm 2015”, https://dhannd.bocongan.gov.vn/mot-so-trao-doi-ve-thu-thap-du-lieu-dien-tu-phuong-tien-dien-tu-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-, truy cập ngày 26/02/2025.
4. Hoàng Thị Thảo, “Chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan”, https://danchuphapluat.vn/chung-cu-tu-nguon-du-lieu-dien-tu-va-kien-nghi-hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-co-lien-quan, truy cập ngày 26/01/2025.
5. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), “Giáo trình Luật tố tụng hình sự”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
[1] Điều 15 BLTTHS năm 2015.
[2] Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), “Giáo trình Luật tố tụng hình sự”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
[3] Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), tlđd.
[4] Trần Thanh Phước, “Một số trao đổi về thu thập dữ liệu điện tử, phương tiện điện tử theo quy định của BLTTHS năm 2015”, https://dhannd.bocongan.gov.vn/mot-so-trao-doi-ve-thu-thap-du-lieu-dien-tu-phuong-tien-dien-tu-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-, truy cập ngày 26/02/2025.
[5] Hoàng Thị Thảo, “Chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan”, https://danchuphapluat.vn/chung-cu-tu-nguon-du-lieu-dien-tu-va-kien-nghi-hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-co-lien-quan, truy cập ngày 26/01/2025.
[6] Điều 85 BLTTHS năm 2015
[7] Điểm e khoản 2 Điều 260 BLTTHS năm 2015.
[8] Nguyễn Tiến Hùng, “Một số vấn đề đặt ra trong việc thu thập, tiếp nhận chứng cứ do người bào chữa thu thập, giao nộp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, https://vksnd.gialai.gov.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/mot-so-van-de-dat-ra-trong-viec-thu-thap-tiep-nhan-chung-cu-do-nguoi-bao-chua-thu-thap-giao-nop-trong-giai-doan-dieu-tra-vu-an-hinh-su-1844.html, truy cập ngày 02/3/2025.